Tổng quan nghiên cứu

Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) là thước đo quan trọng phản ánh chất lượng điều hành kinh tế và mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh tại các địa phương Việt Nam. Năm 2017, tỉnh Bắc Ninh ghi nhận sự bứt phá kinh tế ấn tượng với tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 18,6% (vượt xa kế hoạch 9,0% - 9,2%), quy mô GRDP chiếm 3,11% GDP cả nước và xếp thứ 4/63 tỉnh, thành. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 979 nghìn tỷ đồng và kim ngạch xuất khẩu đạt 29,85 tỷ USD, đóng góp tới 14,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bắc Ninh cũng thu hút 3,5 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong đó riêng Tập đoàn Samsung đã mở rộng đầu tư thêm 2,5 tỷ USD.

Mặc dù có nền tảng công nghiệp và thu hút dòng vốn quốc tế vượt trội, điểm số PCI của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015 - 2017 lại bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Cụ thể, dù điểm số tổng hợp tăng từ 59,91 điểm (năm 2015) lên 64,36 điểm (năm 2017), vị trí xếp hạng của tỉnh lại tụt từ hạng 13 xuống hạng 17 trên toàn quốc và tụt từ vị trí thứ 3 xuống thứ 5 trong khu vực Đồng bằng sông Hồng. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng các chỉ số thành phần PCI của Bắc Ninh giai đoạn 2015 - 2017, làm rõ nguyên nhân suy giảm thứ hạng cạnh tranh và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chỉ số PCI. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cấp bách, tạo động lực thúc đẩy cải cách hành chính, hướng đến mục tiêu xây dựng Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Lợi thế cạnh tranh địa phương của Michael Porter kết hợp cùng Học thuyết Quản trị công mới (New Public Management) nhằm giải thích mối quan hệ tương tác giữa năng lực quản trị của bộ máy chính quyền địa phương và sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Hệ thống lý thuyết kinh tế học thể chế chỉ ra rằng môi trường thể chế minh bạch, chi phí tuân thủ thấp và sự bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực là những yếu tố quyết định hành vi đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.

Khung phân tích của đề tài dựa trên cấu trúc Bộ chỉ số PCI do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cùng Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) phát triển. Mô hình PCI bao gồm 10 chỉ số thành phần cốt lõi: Chi phí gia nhập thị trường, Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất, Tính minh bạch, Chi phí thời gian, Chi phí không chính thức, Cạnh tranh bình đẳng, Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, Đào tạo lao động, và Thiết chế pháp lý. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp khái niệm Bộ chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành và địa phương (DCI) nhằm đánh giá mức độ truyền dẫn chính sách từ cấp tỉnh xuống cấp cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong phạm vi thời gian từ năm 2015 đến năm 2017 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Dữ liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo thường niên PCI của VCCI, số liệu Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh, các nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội và văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả triển khai phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp kỹ thuật phỏng vấn chuyên gia và điều tra khảo sát thực tế:

  • Mẫu chuyên gia quản lý: Sử dụng phương pháp lấy mẫu có chủ đích đối với 15 cán bộ quản lý đang công tác tại Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, và Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Ninh. Quá trình phỏng vấn sâu dừng lại ở mẫu thứ 15 khi đạt ngưỡng bão hòa thông tin nhằm xác định chính xác các điểm nghẽn thể chế.
  • Mẫu doanh nghiệp và nhà đầu tư: Thực hiện khảo sát bán cấu trúc bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện đối với 50 nhà đầu tư, đại diện doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Cỡ mẫu này đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu thăm dò đối với tổng thể doanh nghiệp theo các hướng dẫn phương pháp luận kinh tế học hiện đại.

Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh tuyệt đối và tương đối qua công cụ phần mềm Excel. Việc lựa chọn phương pháp này cho phép nhận diện chính xác xu hướng biến động điểm số, biên độ thay đổi thứ hạng qua các năm và so sánh đối chuẩn giữa Bắc Ninh với nhóm tỉnh trung vị và các địa phương dẫn đầu cả nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm giai đoạn 2015 - 2017 cho thấy bức tranh đa chiều về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Bắc Ninh:

Thứ nhất, tổng điểm PCI của Bắc Ninh đạt mức tăng trưởng 4,45 điểm sau 3 năm, từ 59,91 điểm (2015) lên 60,35 điểm (2016) và đạt 64,36 điểm (2017). Mặc dù điểm số tăng 4,01 điểm riêng trong năm 2017, vị trí xếp hạng của tỉnh vẫn giậm chân tại chỗ ở bậc 17/63 toàn quốc, đồng thời bị tụt hạng phân nhóm từ nhóm "Tốt" xuống nhóm "Khá".

Thứ hai, có 8/10 chỉ số thành phần ghi nhận sự gia tăng điểm số tích cực trong năm 2017. Điển hình là chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp tăng mạnh 1,22 điểm (từ 5,64 lên 6,86 điểm); Chi phí không chính thức tăng 0,80 điểm (từ 5,10 lên 5,90 điểm); Thiết chế pháp lý tăng 0,54 điểm (từ 4,85 lên 5,39 điểm); Tiếp cận đất đai tăng 0,53 điểm (đạt 6,57 điểm); Đào tạo lao động duy trì điểm số cao đạt 7,56 điểm.

Thứ ba, hai chỉ số thành phần chủ chốt bị sụt giảm điểm nghiêm trọng là Chi phí gia nhập thị trường và Môi trường cạnh tranh bình đẳng. Chỉ số Chi phí gia nhập thị trường giảm sâu 1,02 điểm, rơi từ 8,29 điểm (2016) xuống còn 7,27 điểm (2017), thấp hơn điểm số tỉnh trung vị cả nước (7,84 điểm). Đáng báo động nhất, chỉ số Cạnh tranh bình đẳng giảm 0,92 điểm, tụt xuống mức 3,85 điểm trong năm 2017 - trở thành chỉ số có điểm số thấp nhất trong toàn bộ 10 lĩnh vực điều hành của tỉnh.

Thứ tư, hiệu quả hoạt động tại bộ phận một cửa cấp cơ sở còn nhiều hạn chế. Mặc dù tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký qua một cửa đạt tới 98,7% trong năm 2016, tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá cán bộ am hiểu chuyên môn chỉ đạt 40,84% và mức độ nhiệt tình, thân thiện của cán bộ giải quyết thủ tục chỉ đạt 41,44% tính bình quân cả giai đoạn.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm của chỉ số Cạnh tranh bình đẳng (3,85 điểm) bắt nguồn từ tâm lý e ngại của các doanh nghiệp dân doanh địa phương trước làn sóng ưu đãi vượt trội dành cho các tập đoàn FDI lớn như Samsung hay Foxconn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước cảm thấy gặp nhiều bất lợi trong việc tiếp cận mặt bằng sản xuất tại các khu công nghiệp tập trung và tiếp cận các gói hỗ trợ tín dụng ưu đãi.

Khi đối chiếu với các địa phương xuất sắc như Quảng Ninh (xếp vị trí quán quân năm 2017 với 70,70 điểm) và Đà Nẵng (xếp thứ hai với 70,11 điểm), Bắc Ninh cho thấy sự chậm trễ trong việc triển khai các sáng kiến đổi mới quản trị công. Quảng Ninh đã vận hành rất thành công Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư (IPA) trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh cùng mô hình Trung tâm Hành chính công đồng bộ, giúp rút ngắn thời gian cấp phép kinh doanh xuống còn 02 ngày làm việc và giảm thời gian giải quyết thủ tục xây dựng xuống dưới 45 ngày. Trong khi đó, tại Bắc Ninh, thời gian trung bình để cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp vẫn dao động ở mức 7 ngày.

Các phát hiện nghiên cứu có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ mạng nhện (radar chart) so sánh 10 trục chỉ số thành phần của Bắc Ninh với điểm chuẩn của nhóm tỉnh dẫn đầu và đường trung vị cả nước. Biểu đồ này làm nổi bật "vùng khuyết lõm" nghiêm trọng tại hai trục Cạnh tranh bình đẳng và Chi phí gia nhập thị trường, cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng để các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh trọng tâm cải cách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, luận văn đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chỉ số PCI của tỉnh Bắc Ninh:

  • Tái cấu trúc và hiện đại hóa quy trình tiếp nhận hồ sơ tại Trung tâm Hành chính công: Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các sở, ngành liên quan rà soát 100% thủ tục đăng ký kinh doanh và cấp phép chuyên ngành; cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, phấn đấu đưa thời gian đăng ký doanh nghiệp xuống dưới 03 ngày làm việc; mục tiêu nâng điểm chỉ số Chi phí gia nhập thị trường lên trên 8,00 điểm trong giai đoạn 2019 - 2020.

  • Triển khai thực chất Bộ chỉ số Đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương (DCI): Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quy chế đánh giá DCI định kỳ hàng năm; gắn kết quả đánh giá DCI vào tiêu chí thi đua và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo; thiết lập cơ chế giám sát độc lập nhằm loại bỏ hiện tượng nhũng nhiễu, phấn đấu giảm tỷ lệ doanh nghiệp phải chi trả chi phí không chính thức xuống dưới 35%, nâng điểm Tính năng động của chính quyền lên trên 6,50 điểm trước năm 2021.

  • Xây dựng cổng thông tin dữ liệu mở và công khai quy hoạch đất đai: Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Sở Xây dựng số hóa 100% bản đồ quy hoạch sử dụng đất, quỹ đất công nghiệp và kế hoạch đầu tư công lên cổng thông tin điện tử của tỉnh; thiết lập quy trình đấu giá đất công khai, minh bạch; đặt mục tiêu đưa điểm chỉ số Tiếp cận đất đai và Tính minh bạch vượt mốc 7,00 điểm vào năm 2022.

  • Kiến tạo môi trường liên kết kinh tế và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng: Ban Quản lý các Khu công nghiệp phối hợp Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh triển khai chương trình kết nối chuỗi cung ứng giữa các tập đoàn FDI đa quốc gia với các doanh nghiệp công nghiệp phụ trợ nội địa; xóa bỏ triệt để mọi rào cản phân biệt đối xử trong tiếp cận tín dụng và thủ tục hành chính; mục tiêu kéo điểm chỉ số Cạnh tranh bình đẳng từ 3,85 điểm lên mức trên 5,50 điểm trong giai đoạn 2019 - 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  • Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước: Các sở, ban, ngành thuộc tỉnh Bắc Ninh như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các Khu công nghiệp có thể sử dụng luận văn làm tài liệu định chuẩn để xây dựng kế hoạch hành động cải thiện môi trường kinh doanh cấp cơ sở.

  • Các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế và Chính sách công: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh, hệ thống dữ liệu chuỗi thời gian chi tiết và phương pháp phân tích chỉ số PCI cấp tỉnh làm tài liệu tham khảo trong học thuật và giảng dạy.

  • Ban lãnh đạo các Hiệp hội doanh nghiệp và tổ chức xúc tiến thương mại: Nguồn tư liệu giá trị giúp các hiệp hội nắm bắt tâm tư, rào cản thể chế của cộng đồng doanh nghiệp hội viên, từ đó nâng cao chất lượng phản biện xã hội và tham vấn chính sách cho chính quyền địa phương.

  • Các nhà đầu tư trong nước và quốc tế đang tìm kiếm cơ hội đầu tư: Luận văn cung cấp bức tranh toàn diện, khách quan về điểm mạnh, điểm yếu và môi trường pháp lý của tỉnh Bắc Ninh, hỗ trợ quá trình thẩm định rủi ro và ra quyết định đầu tư kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

Điểm số PCI của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015 - 2017 biến động như thế nào?

Điểm số tổng hợp PCI của tỉnh tăng đều qua từng năm, từ 59,91 điểm (2015) lên 60,35 điểm (2016) và đạt 64,36 điểm (2017). Tuy nhiên, do tốc độ cải cách của các tỉnh bạn diễn ra nhanh hơn, thứ hạng toàn quốc của Bắc Ninh bị tụt từ vị trí thứ 13 xuống thứ 17 và giữ nguyên vị trí này đến năm 2017.

Đâu là rào cản lớn nhất trong môi trường cạnh tranh của Bắc Ninh theo số liệu nghiên cứu?

Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng là điểm nghẽn nghiêm trọng nhất khi chỉ đạt 3,85 điểm vào năm 2017. Nguyên nhân chính là do sự chênh lệch lớn về chính sách ưu đãi giữa khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và khối doanh nghiệp dân doanh nội địa trong việc tiếp cận mặt bằng, tín dụng và thủ tục hành chính.

Phương pháp chọn mẫu sơ cấp của luận văn có bảo đảm độ tin cậy khoa học không?

Phương pháp nghiên cứu hoàn toàn bảo đảm tính khoa học khi kết hợp lấy mẫu có chủ đích 15 cán bộ quản lý cấp tỉnh/thành phố (đạt điểm bão hòa dữ liệu) và chọn mẫu khảo sát thực tế 50 nhà đầu tư, doanh nghiệp theo đúng chuẩn mực nghiên cứu quản lý kinh tế ứng dụng.

Việc thành lập Trung tâm Hành chính công mang lại tác động gì cho Bắc Ninh?

Mô hình Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh và cấp huyện đi vào vận hành từ năm 2017 đã giúp nâng tỷ lệ giải quyết thủ tục đăng ký qua một cửa lên trên 98%, đóng góp trực tiếp vào việc cải thiện chỉ số Chi phí thời gian đạt 6,65 điểm và nâng cao tính công khai, minh bạch.

Bắc Ninh có thể học hỏi bài học gì từ mô hình thành công của tỉnh Quảng Ninh?

Bắc Ninh cần nhân rộng mô hình Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư (IPA), áp dụng triệt để Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ngành (DCI) nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình của lãnh đạo cấp huyện, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng chính phủ điện tử để giảm thiểu tối đa chi phí không chính thức.

Kết luận

  • Luận văn đã luận giải sâu sắc thực trạng năng lực điều hành kinh tế của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2015 - 2017, ghi nhận sự tiến bộ về điểm số PCI (đạt 64,36 điểm) nhưng cảnh báo tình trạng chững lại về thứ hạng ở vị trí 17/63.
  • Nghiên cứu đã chỉ rõ sự phân hóa giữa 8 chỉ số thành phần tăng điểm và 2 chỉ số giảm điểm nghiêm trọng là Chi phí gia nhập thị trường (7,27 điểm) và Cạnh tranh bình đẳng (3,85 điểm).
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của đề tài là việc tích hợp đánh giá thực trạng kinh tế vĩ mô địa phương với cảm nhận thực tế của 50 nhà đầu tư và 15 chuyên gia quản lý, tạo cơ sở thực nghiệm vững chắc cho các đề xuất chính sách.
  • Lộ trình thực hiện các giải pháp được xác định rõ nét trong giai đoạn 2019 - 2022, trọng tâm là cải cách bộ phận một cửa, vận hành bộ chỉ số DCI và công khai hóa dữ liệu quy hoạch đất đai.
  • Chính quyền tỉnh Bắc Ninh cùng cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp hành động ngay hôm nay nhằm tạo đột phá thể chế, đưa Bắc Ninh vươn lên nhóm địa phương có chất lượng điều hành kinh tế xuất sắc nhất cả nước.