Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại C ng ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xử lý Bom m n, vật nổ 319. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực C ng ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Xử lý Bom m n, vật nổ 319. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Tổ chức ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: Nguồn nhân lực (NNL) là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp. Theo quan niệm này, NNL được coi như một nguồn vốn. Sự tham gia của nguồn vốn này trong quá tr nh sản xuất lại kh ng giống như vốn bằng tiền, vốn c ng nghệ, tài nguyên.
Nguồn vốn đặc biệt này được đặt bên cạnh các loại vốn kia nhưng để khai thác, duy tr và sử dụng các loại vốn vật chất đó. Theo Nguyễn Tiệp (2005) giáo tr nh Nguồn nhân lực, trường Đại học Lao động - Xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [21, tr. Khái niệm nguồn nhân lực trong giáo tr nh này được phán ánh như là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008): giáo tr nh Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”.
“Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá tr nh tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện th ng qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [2, tr. Những khái niệm kể trên, với những góc nh n khác nhau nhưng nội dung cốt lõi vẫn có tính thống nhất, mà chúng ta có thể hiểu như sau: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp lực lượng lao động cho xã hội trong sản xuất và sự phát triển. Mà con người là yếu tố quan trọng nhất cấu thành lực lượng sản xuất, là nguồn lực cơ bản và v tận của sự phát triển được biểu hiện cả về số lượng và chất lượng; kh ng chỉ có bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà còn các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
9 Xét trên góc độ trong một tổ chức (doanh nghiệp) th : nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức có đầy đủ điều kiện về sức khoẻ, tr nh độ học vấn khác nhau, hội tụ những phẩm chất đạo đức đáp ứng cho yêu cầu c ng việc, nếu được tạo động lực và khuyến khích làm việc một cách hợp lý thì họ có thể tạo thành một khối sức mạnh thống nhất v cùng mạnh mẽ để giúp doanh nghiệp hoàn thành những mục tiêu đề ra. Chất lượng nguồn nhân lực Khái niệm chất lượng Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO) định nghĩa: Chất lượng là toàn bộ những tính năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và tiềm ẩn; người tạo nên chất lượng của sản phẩm, dịch vụ đó, xét trong phạm vi hẹp một tổ chức th là tất cả lực lượng lao động của tổ chức đó. Một số đặc điểm của chất lượng - Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm, dịch vụ v lý do nào đó mà kh ng được nhu cầu chấp nhận th bị coi là có chất lượng kém, cho dù tr nh độ c ng nghệ để tạo ra sản phẩm, dịch vụ đó có thể rất hiện đại.
Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà quản trị định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của m nh. - Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu lu n lu n biến động nên chất lượng cũng lu n lu n biến động theo thời gian, kh ng gian, điều kiện sử dụng. - Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này kh ng chỉ t phía khách hàng mà còn t các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế, nhu cầu của cộng đồng xã hội.
- Nhu cầu có thể được c ng bố rõ ràng dưới dạng các qui định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu kh ng thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện được chúng trong quá tr nh sử dụng. - Chất lượng kh ng chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa mà ta hiểu hàng ngày. Chất lượng có thể áp dụng cho một hệ thống, một quá trình. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực 10 Theo Tạ Ngọc Hải (2013), Viện khoa học tổ chức Nhà nước, dựa trên khái niệm: “Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công đạt được của mỗi tổ chức” th : “chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của người lao động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực” [15, tr. Theo Bùi Văn Nhơn (2017) “Chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội” trong đó: - Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần. - Trí lực của nguồn nhân lực: tr nh độ văn hóa, chuyên m n kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động. - Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong c ng nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao… [17, tr.
Đứng trên cách tiếp cận vi m (doanh nghiệp) th chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá th ng qua các tiêu thức: Thể lực, trí lực, tâm lực (phẩm chất đạo đức). Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực được hiểu: là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực; chất lượng nguồn nhân lực biểu hiện ở 3 yếu tố: thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức (tâm lực) của người lao động. Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, tâm lực. Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách v a là một khách thể vật chất đặc biệt, v a là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội.
Trong đó: - Thể lực con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của t ng cá nhân cụ thể. Một cơ thể khỏe mạnh thích nghi với m i trường sống th năng lượng do nó sinh ra sẽ đáp ứng được nhu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người. Phải có thể lực con người mới trở thành lực lượng lao động và tham gia vào quá tr nh sản xuất kinh doanh, tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Trong điều kiện cách mạng khoa học c ng nghệ hiện nay, tri thức trong sản phẩm 11 lao động chiếm tỷ trọng lớn th đòi hỏi sức khoẻ tâm thần càng cao cũng bởi lẽ nó là cơ sở của sự sáng tạo và tư duy. Tầm vóc thấp bé và sức khoẻ kém của người lao động Việt Nam tuy có cải thiện so với trước đây nhưng vẫn còn khá thấp so với các nước trong khu vực và thế giới. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá tr nh lao động. - Trí lực được xác định bởi trí thức chung về khoa học, tr nh độ kiến thức chuyên m n kỹ thuật, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy xét đoán của m i con người.
Trí lực thực tế là hệ thống th ng tin đã được xử lý và lưu giữ lại trong bộ nhớ của m i cá nhân con người, được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau. Nó được h nh thành phát triển th ng qua quá tr nh giáo dục, đào tạo cũng như trong quá tr nh lao động sản xuất. Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay đòi hỏi người lao động cần phải có sự chủ động nắm bắt xu hướng và tham gia hội nhập quốc tế…Có một thực tế ở lao động Việt Nam đó là tuy người lao động có bằng cấp cao nhưng làm việc kh ng hiệu qủa hoặc kh ng làm được việc, bằng cấp của Việt Nam kh ng có giá trị khi đem ra nước ngoài. - Tâm lực (phẩm chất, đạo đức) là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những t nh cảm, tập quán, phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các h nh thành tư tưởng, đạo đức và nghệ thuật… gắn liền với truyền thống văn hóa.
Một nền văn hóa với bản sắc riêng lu n là sức mạnh nội tại của một dân tộc. Kinh nghiệm thành c ng trong phát triển kinh tế của Nhật Bản và các nước NIC Châu Á là tiếp thu kỹ thuật phương Tây trên cơ sở khai thác và phát huy giá trị cốt lõi tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc để đối mới và phát triển.