Luận văn Thạc sĩ: nâng cao chất lượng đội ngũ công chức văn hóa xã hội cấp

Luận văn đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công chức văn hóa xã hội cấp xã tại Triệu Phong, Quảng Trị, góp phần phát triển bền vững địa phương.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Nguyễn Văn Bảo

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

123
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bí quyết nâng cao chất lượng công chức văn hóa xã hội cấp xã

Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức là yếu tố then chốt trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước. Tại cấp cơ sở, đội ngũ này đóng vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Việc thực hiện quản lý nhà nước về cán bộ hiệu quả giúp đảm bảo các chính sách an sinh xã hội được thực thi đúng đắn. Tài liệu nghiên cứu nhấn mạnh rằng: "Cán bộ là gốc của mọi công việc. Muốn công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". Do đó, việc xác định rõ tiêu chuẩn và vị trí của công chức văn hóa thông tin là bước đi đầu tiên để kiện toàn bộ máy chính quyền địa phương. Đội ngũ này không chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn mà còn là người trực tiếp tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nếp sống văn minh.

1.1. Vai trò then chốt của hành chính công cấp xã hiện nay

Hành chính công cấp xã là cấp gần dân nhất, trực tiếp giải quyết các nhu cầu thiết yếu của đời sống. Công chức văn hóa - xã hội tại đây đảm nhận khối lượng công việc đa dạng từ văn hóa, giáo dục, y tế đến chính sách xã hội. Sự chuyên nghiệp trong thực thi công vụ giúp nâng cao lòng tin của nhân dân vào hệ thống chính trị. Đây là lực lượng nòng cốt trong việc phát triển nguồn nhân lực địa phương và thúc đẩy phong trào xây dựng nông thôn mới tại các xã, thị trấn.

1.2. Khái niệm và tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã chuẩn

Tiêu chuẩn chức danh công chức được quy định rõ ràng về độ tuổi, trình độ học vấn và chuyên môn. Công chức văn hóa - xã hội cần đạt trình độ trung cấp trở lên các chuyên ngành liên quan như quản lý văn hóa, công tác xã hội. Bên cạnh bằng cấp, tiêu chuẩn về lý luận chính trị và kỹ năng tin học văn phòng là bắt buộc. Việc tuân thủ các tiêu chuẩn này đảm bảo cơ cấu đội ngũ công chức được sắp xếp khoa học, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.

II. Thách thức trong quản lý nhà nước về cán bộ tại Triệu Phong

Thực trạng tại UBND huyện Triệu Phong giai đoạn 2015-2017 cho thấy nhiều vấn đề cần giải quyết trong công tác cán bộ. Mặc dù hệ thống hạ tầng đã được đầu tư, nhưng chất lượng đội ngũ vẫn còn những lỗ hổng nhất định. Một bộ phận công chức chưa thực sự tận tụy hoặc thiếu năng lực chuyên môn để xử lý các hồ sơ phức tạp. Sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công đôi khi chưa đạt kỳ vọng do thái độ phục vụ của một số cá nhân. Những hạn chế này bắt nguồn từ cả yếu tố khách quan như cơ chế chính sách và yếu tố chủ quan như ý thức tự học tập của công chức. Việc phân tích kỹ các thách thức này là cơ sở để đề xuất các giải pháp mang tính đột phá cho địa phương.

2.1. Hạn chế về cơ cấu đội ngũ công chức văn hóa tại địa phương

Cơ cấu đội ngũ công chức tại huyện Triệu Phong còn bộc lộ sự thiếu đồng bộ giữa các độ tuổi và giới tính. Tỷ lệ công chức trẻ có năng lực công nghệ cao còn thấp, trong khi đội ngũ thâm niên đôi khi chậm thích nghi với các quy trình hành chính mới. Sự thiếu hụt nhân lực có chuyên môn sâu về lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội dẫn đến tình trạng quá tải công việc. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý các đối tượng chính sách và người có công trên địa bàn.

2.2. Những yếu điểm trong đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm

Đạo đức công vụ là thước đo quan trọng nhất đối với người công chức cấp xã. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại tình trạng làm việc đối phó, thiếu tính sáng tạo và chủ động. Một số công chức chưa thực sự coi trọng việc lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân. Sự suy giảm uy tín của người lãnh đạo hoặc môi trường làm việc thiếu minh bạch cũng là nguyên nhân làm thui chột tính tích cực lao động. Việc chấn chỉnh tác phong làm việc và thái độ phục vụ là yêu cầu cấp bách hiện nay.

III. Cách đào tạo bồi dưỡng công chức văn hóa thông tin hiệu quả

Phương pháp đào tạo bồi dưỡng công chức cần được đổi mới theo hướng thực chất và bám sát thực tiễn. Không nên chạy theo bằng cấp mà cần tập trung vào việc trang bị các kỹ năng tác nghiệp thực tế. Nội dung đào tạo phải bao gồm cả lý luận chính trị và nghiệp vụ chuyên môn sâu về văn hóa, xã hội. Sở Nội vụ tỉnh Quảng Trị cần phối hợp chặt chẽ với huyện để xây dựng các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn, cập nhật văn bản pháp luật mới nhất. Một đội ngũ được đào tạo bài bản sẽ có đủ tự tin để giải quyết các vấn đề phát sinh tại cơ sở, từ đó nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Đây là giải pháp bền vững để xây dựng nền hành chính hiện đại và chuyên nghiệp.

3.1. Nâng cao năng lực chuyên môn thông qua các lớp bồi dưỡng

Năng lực chuyên môn được hình thành qua quá trình học tập liên tục và rút kinh nghiệm thực tế. Các lớp bồi dưỡng cần tập trung vào kỹ năng xây dựng kế hoạch văn hóa, thể thao và quản lý đối tượng bảo trợ xã hội. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu dân cư và lao động là nội dung ưu tiên. Công chức cần được hướng dẫn cách sử dụng các phần mềm chuyên ngành để giảm thiểu sai sót và rút ngắn thời gian xử lý công việc cho người dân.

3.2. Rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và văn hóa ứng xử công sở

Kỹ năng giao tiếp và xử lý tình huống là yếu tố quyết định sự hài lòng của người dân. Công chức cần được rèn luyện kỹ năng lắng nghe, thuyết phục và giải quyết khiếu nại ngay tại cơ sở. Xây dựng văn hóa ứng xử công sở văn minh giúp tạo dựng hình ảnh người cán bộ thân thiện, gần dân. Việc tổ chức các hội thi nghiệp vụ hoặc diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm giữa các xã là cách làm hay để nâng cao tay nghề cho đội ngũ công chức văn hóa thông tin.

IV. Top giải pháp tuyển dụng và chính sách cán bộ cấp xã ưu việt

Đổi mới cơ chế tuyển dụng là khâu đột phá để thu hút nhân tài về làm việc tại địa phương. Chính sách cán bộ cấp xã cần có những ưu đãi đặc thù để khuyến khích những người có trình độ cao tự nguyện về cơ sở. Quy trình tuyển dụng phải đảm bảo công khai, minh bạch và dựa trên vị trí việc làm thực tế. Ngoài ra, việc xây dựng bản mô tả công việc chi tiết giúp ứng viên xác định rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình. Quản lý nguồn nhân lực công không chỉ dừng lại ở việc tuyển chọn mà còn là quá trình nuôi dưỡng và phát triển tài năng. Những chính sách đãi ngộ xứng đáng về vật chất và tinh thần sẽ là động lực mạnh mẽ để công chức gắn bó lâu dài với quê hương.

4.1. Đổi mới quy trình tuyển dụng công chức tại Triệu Phong

Công tác tuyển dụng tại UBND huyện Triệu Phong cần chú trọng vào việc đánh giá năng lực thực tế thay vì chỉ dựa vào hồ sơ. Việc tổ chức thi tuyển kết hợp phỏng vấn trực tiếp giúp chọn lọc được những người có tâm huyết và kỹ năng phù hợp. Cần có cơ chế thu hút sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi các chuyên ngành văn hóa, xã hội về xã công tác. Đây là nguồn lực quan trọng để trẻ hóa đội ngũ và mang lại luồng sinh khí mới cho bộ máy hành chính cấp xã.

4.2. Chế độ đãi ngộ và thu hút nhân tài về làm việc tại cơ sở

Chính sách cán bộ cấp xã cần linh hoạt trong việc hỗ trợ kinh phí đào tạo và phụ cấp trách nhiệm. Cần đảm bảo các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và điều kiện làm việc thuận lợi. Việc tôn vinh, khen thưởng kịp thời những cá nhân có thành tích xuất sắc tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh. Đầu tư cho chính sách đãi ngộ chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của hệ thống chính trị cơ sở, giúp ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám.

V. Hướng dẫn đánh giá xếp loại công chức và đạo đức công vụ chuẩn

Công tác đánh giá xếp loại công chức phải dựa trên kết quả thực hiện nhiệm vụ cụ thể và sự hài lòng của nhân dân. Đây là thước đo khách quan để xem xét năng lực và thái độ của mỗi cá nhân. Việc đánh giá cần được thực hiện định kỳ, tránh tình trạng nể nang, né tránh hoặc mang tính hình thức. Kết quả đánh giá là căn cứ quan trọng để thực hiện các chế độ đào tạo, quy hoạch và bổ nhiệm. Đồng thời, công tác thanh tra, kiểm tra cần được tăng cường để kịp thời chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc trong đạo đức công vụ. Một hệ thống đánh giá công bằng sẽ tạo động lực cho công chức phấn đấu, hoàn thiện bản thân và cống hiến tốt hơn cho cộng đồng.

5.1. Tiêu chí đánh giá kết quả thực thi công vụ hàng năm

Kết quả thực thi công vụ được đánh giá qua tỷ lệ hoàn thành kế hoạch công tác và chất lượng các văn bản tham mưu. Công chức cần đảm bảo 100% nhiệm vụ được giao đúng tiến độ và không có sai sót về chuyên môn. Sự hài lòng của người dân khi thực hiện các thủ tục hành chính là một chỉ số quan trọng. Việc ứng dụng các tiêu chí định lượng giúp công tác đánh giá xếp loại công chức trở nên minh bạch và thuyết phục hơn, loại bỏ cảm tính trong quản lý.

5.2. Tăng cường thanh tra kiểm tra và kỷ luật hành chính

Công tác kiểm tra, giám sát giúp phát hiện sớm các sai phạm trong thực hiện chính sách xã hội và quản lý văn hóa. UBND huyện Triệu Phong cần thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra đột xuất về giờ giấc làm việc và thái độ tiếp dân. Việc xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm đạo đức công vụ hoặc gây phiền hà cho dân là cần thiết. Kỷ luật nghiêm minh song hành với khen thưởng kịp thời sẽ tạo ra môi trường làm việc kỷ cương và trách nhiệm.

VI. Kết quả phát triển nguồn nhân lực địa phương tại Triệu Phong

Nghiên cứu về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức văn hóa - xã hội tại Triệu Phong đã mang lại cái nhìn tổng thể và sâu sắc. Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp từ đào tạo đến chính sách đãi ngộ đã bước đầu cải thiện năng lực của bộ máy hành chính công cấp xã. Đội ngũ công chức ngày càng chuyên nghiệp, am hiểu pháp luật và tận tụy với nhân dân. Kết quả này không chỉ đóng góp vào thành công của luận văn mà còn có giá trị thực tiễn cao cho Sở Nội vụ tỉnh Quảng Trị trong việc hoạch định chính sách cán bộ. Tương lai của địa phương phụ thuộc rất lớn vào sự vững mạnh của đội ngũ cán bộ cơ sở này. Sự phát triển bền vững về văn hóa - xã hội sẽ là nền tảng vững chắc cho sự đi lên của huyện Triệu Phong trong những năm tới.

6.1. Những thành tựu đạt được trong công tác quản lý cán bộ

Sau quá trình áp dụng các giải pháp nâng cao chất lượng, năng lực chuyên môn của đội ngũ công chức đã có sự chuyển biến rõ rệt. Tỷ lệ công chức đạt chuẩn về bằng cấp và chứng chỉ nghiệp vụ tăng cao. Công tác giải quyết chính sách cho người có công và các đối tượng xã hội được thực hiện nhanh chóng, chính xác. Những thành tựu này góp phần ổn định tình hình chính trị, xã hội và thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, tạo niềm tin vững chắc trong quần chúng nhân dân.

6.2. Định hướng phát triển đội ngũ công chức trong tương lai

Trong tương lai, huyện cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và thực thi công vụ. Xây dựng đội ngũ công chức văn hóa - xã hội có bản lĩnh chính trị vững vàng và kỹ năng hội nhập quốc tế. Việc duy trì và đổi mới các chính sách phát triển nguồn nhân lực địa phương phải là nhiệm vụ xuyên suốt. Triệu Phong hướng tới xây dựng một đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên, xứng đáng là những công bộc tận tụy của nhân dân trong thời kỳ mới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

12/10/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng đội ngũ công chức văn hóa xã hội cấp xã trên địa bàn huyện triệu phong tỉnh quảng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC VĂN HÓA – XÃ HỘI CẤP XÃ 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC VÀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái niệm công chức, công chức cấp xã, công chức văn hóa - xã hội cấp xã 1. Khái niệm công chức Ở nước ta, khái niệm công chức cũng đã được quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện.

Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/SL về "Quy chế công chức", đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này. Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó "những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức". Cùng với sự phát triển của đất nước và nền hành chính nước nhà, khái niệm công chức đã dần được quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn. Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức.

Đến năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: “Công chức là công dân Việt nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc 7 phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Điểm mới quan trọng nhất trong Luật cán bộ, công chức là đổi mới chế độ công vụ mà trước hết là Luật này đã phân định rõ đối tượng cán bộ và công chức, tách biệt với đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập sẽ do bộ luật khác quy định (Luật Viên chức đã có hiệu lực năm 2010), trừ một số vị trí quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn là công chức.

Chính điều này đã làm cho hoạt động công vụ tránh được những chồng chéo, vướng mắc trong cách giải quyết, giúp cho công chức định vị rõ phạm vi hoạt động, vị trí của mình trong công việc. Khái niệm công chức cấp xã Khái niệm công chức xã được quy định tại Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008 như sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. - Cơ cấu công chức cấp xã Theo Khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: a) Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy). b) Chỉ huy trưởng quân sự; c) Văn phòng - Thống kê; d) Địa chính - Xây dựng; đ) Tài chính - Kế toán; e) Tư pháp - Hộ tịch; g) Văn hoá - Xã hội [43, tr.

Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. 8 Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã. Công chức chính quyền cấp xã có một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý điều hành cơ sở. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” và “cán bộ là gốc của mọi công việc”.

“Muốn công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [24, tr. Công chức chính là cầu nối giữa Nhà nước với nhân dân, nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, đồng thời là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Họ vừa là người đại diện Nhà nước, đại diện cộng đồng, vừa là người cùng làng nên họ có thể trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính quyền để các cấp chính quyền đặt ra chính sách đúng. Thực tế cho thấy, ở đâu cán bộ công chức chính quyền cấp xã luôn tận tâm, nắm bắt kịp tâm tư nguyện vọng của dân thì ở đó các cấp chính quyền sẽ đề ra chính sách đúng đắn.

Chính công chức cấp xã là những người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến chính sách của Nhà nước, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách pháp luật đó trong cuộc sống. Đồng thời công chức cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu, những thắc mắc về lợi ích chính đáng của nhân dân. Trên cơ sở phân tích ở trên, tác giả cho rằng: “Công chức cấp xã là những người làm việc trong hệ thống cơ quan HCNN ở địa phương, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước để thực thi công vụ nhằm hướng tới thực hiện các mục tiêu quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực theo quy định của pháp luật”. Công chức văn hóa - xã hội cấp xã Công chức văn hóa – xã hội cấp xã có vai trò rất quan trọng đối với đời sống văn hoá - xã hội ở cơ sở, trực tiếp tổ chức đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.

Đồng thời tiếp thu những ý kiến của nhân dân để phản ánh cho Đảng và Nhà nước hoàn thiện chính sách, pháp luật sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế của đất nước và nguyện vọng chính đáng của 9 nhân dân trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Nhiệm vụ chính của công chức văn hóa - xã hội cấp xã đó là: - “Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của UBND xã trong các lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật. - Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau: + Tổ chức, theo dõi và báo cáo về các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, du lịch, y tế và giáo dục trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư và xây dựng gia đình văn hóa trên địa bàn cấp xã. + Thực hiện các nhiệm vụ thông tin, truyền thông về tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương.

+ Thống kê dân số, lao động, việc làm, ngành nghề trên địa bàn; theo dõi, tổng hợp, báo cáo về số lượng và tình hình biến động các đối tượng chính sách lao động, thương binh và xã hội; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện và chi trả các chế độ đối với người hưởng chính sách xã hội và người có công; quản lý nghĩa trang liệt sĩ và các công trình ghi công liệt sĩ; thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội và chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn cấp xã. + Chủ trì, phối hợp với công chức khác và trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và thực hiện công tác giáo dục tại địa bàn cấp xã. - Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do Chủ tịch UBND cấp xã giao” [2, tr. Trên thực tế, Công chức văn hóa xã hội cấp xã phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, đa dạng và phức tạp, liên quan trự tiếp đến quyền lợi của người dân nên đòi hỏi năng lực công chức văn hóa – xã hội cấp xã phải thực sự cao mới đủ khả năng giải quyết tốt công việc tại địa phương.

Trong thực tế tại các xã, phường, thị trấn, một bộ phận công chức văn hóa xã hội cấp xã không đáp ứng được yêu cầu cần thiết trong công tác quản lý nhà nước tại địa phương. Vì vậy, yêu cầu 10 đặt ra hiện nay cho các cấp quản lý là công tác nâng cao và hoàn thiện chất lượng hệ thống đội ngũ công chức văn hóa - xã hội cấp xã. Trên cơ sở phân tích ở trên, tác giả quan niệm: “Công chức văn hóa – xã hội cấp xã là công chức cấp xã, làm việc tại UBND cấp xã, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền trong các lĩnh vực: Văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, thông tin, truyền thông, lao động, thương binh, xã hội, y tế, giáo dục theo quy định của pháp luật”. Khái niệm chất lượng, chất lượng công chức, chất lượng công chức văn hóa – xã hội cấp xã 1.

Khái niệm chất lượng Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính chất định tính và khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Dưới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000 định nghĩa: “Chất lượng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”[51, tr. Trong mỗi lĩnh vực khác nhau với mục đích khác nhau có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận.

Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và đi kèm theo các chi phí, giá cả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ