Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp: nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện vĩnh linh tỉnh quảng, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Tác giả

Phan Thị Liên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

145
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cách tiếp cận luận văn nâng cao chất lượng dịch vụ HTX Vĩnh Linh

Huyện Vĩnh Linh là khu vực trọng điểm của Kinh tế nông nghiệp Quảng Trị với hơn 57 hợp tác xã đang hoạt động. Việc nghiên cứu Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị đóng vai trò cấp thiết trong bối cảnh hội nhập. Từ khi Luật Hợp tác xã 2012 có hiệu lực, bộ mặt Kinh tế tập thể tại đây đã có những bước chuyển mình đáng kể. Các đơn vị dần từ bỏ tư duy cũ để tiếp cận mô hình Hợp tác xã kiểu mới. Chất lượng dịch vụ được xem là yếu tố sống còn để giữ chân thành viên. Một HTX mạnh phải cung cấp được các giá trị thặng dư thông qua dịch vụ hỗ trợ sản xuất. Nghiên cứu này tập trung phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả vận hành. Mục tiêu cuối cùng là cải thiện đời sống cho hộ nông dân và thúc đẩy Phát triển nông thôn bền vững. Việc đánh giá đúng thực trạng sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra các Chính sách hỗ trợ nông nghiệp phù hợp với đặc thù địa phương.

1.1. Vai trò của kinh tế tập thể trong phát triển nông thôn

Sự phát triển của các HTX giúp liên kết các hộ sản xuất nhỏ lẻ thành một khối thống nhất. Kinh tế tập thể tạo ra sức mạnh đàm phán trên thị trường cho người nông dân. Tại Vĩnh Linh, các HTX đóng vai trò cầu nối giữa Nhà nước và hộ gia đình. Các đơn vị này không chỉ cung cấp dịch vụ kỹ thuật mà còn hỗ trợ vốn. Sự tồn tại của HTX giúp giảm thiểu rủi ro cho nông dân trước biến động thị trường. Đây là nhân tố then chốt để xây dựng nông thôn mới bền vững.

1.2. Đặc điểm mô hình hợp tác xã kiểu mới tại Quảng Trị

Hợp tác xã kiểu mới vận hành dựa trên nguyên tắc tự nguyện và quản lý dân chủ. Khác với mô hình cũ, HTX hiện nay tập trung vào hiệu quả kinh doanh và lợi ích thành viên. Cơ cấu tổ chức HTX được kiện toàn với sự phân định rõ ràng giữa quản lý và điều hành. Các đơn vị tại Vĩnh Linh đã bắt đầu chú trọng đến việc huy động vốn góp. Mô hình này giúp HTX linh hoạt hơn trong việc đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường nông sản.

II. Top thách thức đối với chất lượng dịch vụ HTX tại huyện Vĩnh Linh

Dù có nhiều tiến bộ, chất lượng dịch vụ tại các HTX Vĩnh Linh vẫn đối mặt với nhiều rào cản lớn. Năng lực quản trị hợp tác xã của đội ngũ cán bộ còn hạn chế về chuyên môn kinh tế. Nhiều HTX vẫn hoạt động theo lối mòn, chưa mạnh dạn áp dụng công nghệ. Quy mô vốn nhỏ và Hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp lạc hậu làm giảm khả năng cạnh tranh. Sự thiếu hụt về nguồn lực tài chính khiến việc mở rộng dịch vụ gặp khó khăn. Các HTX thường chỉ thực hiện được các dịch vụ đầu vào cơ bản. Khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm vẫn còn bỏ ngỏ hoặc thực hiện kém hiệu quả. Sự hài lòng của thành viên HTX bị ảnh hưởng do dịch vụ chưa đồng bộ. Tình trạng tì vết trong quản lý tài chính đôi khi làm xói mòn niềm tin của người dân. Để vượt qua thách thức, cần một chiến lược đổi mới toàn diện từ tư duy đến hành động.

2.1. Hạn chế về năng lực quản trị hợp tác xã và đội ngũ cán bộ

Phần lớn cán bộ HTX tại Vĩnh Linh có tuổi đời cao và ít được đào tạo bài bản về quản lý kinh tế. Năng lực quản trị hợp tác xã chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Việc lập kế hoạch kinh doanh còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu. Đội ngũ giúp việc thường thiếu kiến thức về tài chính và marketing. Điều này dẫn đến sự trì trệ trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh quan trọng.

2.2. Khó khăn trong hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp và vốn hoạt động

Hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp tại nhiều xã vẫn chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc tưới tiêu và vận chuyển. Nguồn vốn của HTX chủ yếu dựa vào vốn góp ít ỏi của thành viên, khó tiếp cận tín dụng ngân hàng. Việc thiếu máy móc hiện đại khiến giá thành dịch vụ cao nhưng chất lượng lại thấp. Các HTX gặp khó khăn trong việc đầu tư vào các kho bãi bảo quản nông sản sau thu hoạch.

III. Bí quyết nâng cao năng lực quản trị hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới

Nâng cao năng lực điều hành là chìa khóa để cải thiện chất lượng dịch vụ một cách bền vững. Các HTX cần áp dụng Mô hình SERVQUAL trong nông nghiệp để đo lường mức độ thỏa mãn của thành viên. Việc đào tạo và trẻ hóa đội ngũ cán bộ là ưu tiên hàng đầu. Cán bộ quản lý cần được trang bị kỹ năng về quản trị rủi ro và phân tích thị trường. Một Cơ cấu tổ chức HTX linh hoạt sẽ giúp đơn vị phản ứng nhanh với các thay đổi. Công khai tài chính và minh bạch trong điều hành giúp tăng cường niềm tin. Việc xây dựng văn hóa hợp tác dựa trên sự gắn kết quyền lợi là rất quan trọng. HTX nên chủ động tìm kiếm các chuyên gia tư vấn về kỹ thuật và kinh tế. Năng lực quản trị tốt sẽ giúp tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực sẵn có. Đây chính là nền tảng để tạo ra các dịch vụ có giá trị gia tăng cao cho thành viên.

3.1. Ứng dụng mô hình SERVQUAL trong nông nghiệp để đánh giá

Mô hình SERVQUAL trong nông nghiệp giúp HTX xác định khoảng cách giữa kỳ vọng và cảm nhận của người dân. Các tiêu chí về tính hữu hình, độ tin cậy và sự thấu cảm được cụ thể hóa trong từng dịch vụ. Thông qua khảo sát, HTX có thể biết chính xác khâu nào cần cải thiện. Đây là công cụ khoa học để nâng cao Sự hài lòng của thành viên HTX. Việc lắng nghe phản hồi giúp HTX điều chỉnh giá cả và phương thức cung cấp dịch vụ kịp thời.

3.2. Kiện toàn cơ cấu tổ chức HTX và đào tạo nguồn nhân lực

HTX cần phân định rõ chức năng giữa Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc điều hành. Việc tuyển dụng những người có chuyên môn về nông nghiệp và kinh tế là cần thiết. Các chương trình đào tạo ngắn hạn về Chuyển đổi số trong HTX nông nghiệp nên được triển khai thường xuyên. Nhân sự có trình độ sẽ giúp HTX vận hành các dịch vụ phức tạp như tín dụng nội bộ hay bảo hiểm nông nghiệp một cách an toàn.

IV. Phương pháp liên kết chuỗi giá trị nông sản để nâng cao dịch vụ

Việc Liên kết chuỗi giá trị nông sản là hướng đi tất yếu để nâng cao chất lượng dịch vụ đầu ra. HTX không chỉ dừng lại ở Dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp mà phải tiến tới bao tiêu sản phẩm. Sự hợp tác với các doanh nghiệp lớn giúp đảm bảo đầu ra ổn định cho nông dân. HTX đóng vai trò là đầu mối kiểm soát chất lượng theo các Tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ. Việc xây dựng thương hiệu nông sản địa phương giúp tăng giá trị sản phẩm trên thị trường. Các dịch vụ sau thu hoạch như sơ chế, đóng gói cần được đầu tư bài bản. HTX cần chủ động tham gia vào các sàn giao dịch điện tử để mở rộng thị trường. Dịch vụ bao tiêu sản phẩm giúp thành viên yên tâm sản xuất, không lo bị thương lái ép giá. Đây là giải pháp căn cơ để chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Chuỗi giá trị bền vững sẽ mang lại lợi ích lâu dài cho tất cả các bên tham gia.

4.1. Phát triển dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp chất lượng

Dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp cần đảm bảo hàng hóa chính hãng, giá cả cạnh tranh. HTX nên ký hợp đồng trực tiếp với các nhà sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật uy tín. Việc cung ứng vật tư theo hình thức trả chậm giúp giảm áp lực tài chính cho hộ nông dân. HTX cũng cần tư vấn kỹ thuật sử dụng vật tư hiệu quả, an toàn cho môi trường. Chất lượng vật tư tốt là tiền đề cho năng suất nông sản cao.

4.2. Triển khai tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ vào sản xuất

Hướng dẫn thành viên sản xuất theo Tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ giúp nâng cao uy tín nông sản Vĩnh Linh. HTX cần thiết lập quy trình giám sát chặt chẽ từ khâu giống đến khi thu hoạch. Việc đạt chứng nhận chất lượng giúp sản phẩm dễ dàng thâm nhập vào các hệ thống siêu thị lớn. Đây là cách tốt nhất để thực hiện Dịch vụ bao tiêu sản phẩm với giá trị cao. Sản xuất sạch cũng góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng và đất đai canh tác.

V. Kết quả thực tiễn phát triển nông thôn bền vững tại huyện Vĩnh Linh

Qua giai đoạn nghiên cứu 2016-2018, các HTX tại Vĩnh Linh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Nhiều mô hình HTX hoạt động hiệu quả đã góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn. Tỷ lệ Sự hài lòng của thành viên HTX đối với dịch vụ thủy lợi và làm đất đạt mức khá cao. Doanh thu bình quân của các đơn vị tăng trưởng ổn định qua từng năm. Các HTX đã bắt đầu quan tâm đến việc đầu tư vào Chuyển đổi số trong HTX nông nghiệp để quản lý thành viên. Một số đơn vị tiêu biểu đã thành công trong việc liên kết với doanh nghiệp để xuất khẩu nông sản. Hệ thống Hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp nội đồng được nâng cấp nhờ nguồn vốn tích lũy và hỗ trợ từ Nhà nước. Những kết quả này khẳng định vai trò không thể thay thế của HTX trong phát triển kinh tế địa phương. Đây là tiền đề quan trọng để Vĩnh Linh hướng tới mục tiêu nông thôn mới kiểu mẫu.

5.1. Ứng dụng chuyển đổi số trong HTX nông nghiệp tại địa phương

Chuyển đổi số trong HTX nông nghiệp bắt đầu từ việc quản lý dữ liệu thành viên và nhật ký sản xuất điện tử. Việc ứng dụng các phần mềm kế toán giúp minh bạch hóa dòng tiền trong HTX. Một số HTX tại Vĩnh Linh đã sử dụng mạng xã hội để quảng bá sản phẩm và nhận phản hồi dịch vụ. Công nghệ giúp tối ưu hóa lịch trình tưới tiêu và dự báo sâu bệnh. Bước đầu số hóa giúp giảm chi phí vận hành và tăng tính chính xác trong quản lý.

5.2. Đánh giá sự hài lòng của thành viên HTX qua số liệu SPSS

Kết quả phân tích số liệu cho thấy Sự hài lòng của thành viên HTX phụ thuộc lớn vào tính kịp thời của dịch vụ. Các dịch vụ như bảo vệ thực vật và thu mua nông sản nhận được đánh giá tích cực. Tuy nhiên, giá cả dịch vụ vẫn là yếu tố khiến nhiều thành viên cân nhắc. Việc xử lý số liệu qua phần mềm SPSS giúp HTX nhìn thấy rõ các điểm yếu trong quy trình cung ứng. Từ đó, Hội đồng quản trị có cơ sở khoa học để điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh.

VI. Tầm nhìn chính sách hỗ trợ nông nghiệp và tương lai HTX Vĩnh Linh

Tương lai của các HTX tại Vĩnh Linh phụ thuộc chặt chẽ vào việc thực thi các Chính sách hỗ trợ nông nghiệp. Nhà nước cần tiếp tục ưu tiên nguồn vốn ưu đãi cho các HTX đầu tư máy móc hiện đại. Việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ, có tâm huyết về làm việc tại HTX là giải pháp bền vững. Các chính sách về đất đai cần được khơi thông để HTX có mặt bằng xây dựng nhà xưởng. Xu hướng Phát triển nông thôn bền vững yêu cầu các HTX phải thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc đa dạng hóa dịch vụ, từ nông nghiệp sang du lịch trải nghiệm, là một hướng đi mới. HTX cần phát huy vai trò tự chủ, không nên quá ỷ lại vào hỗ trợ của Nhà nước. Sự chủ động trong tìm kiếm thị trường và liên kết vùng sẽ mở ra nhiều cơ hội. Tầm nhìn đến năm 2030, các HTX Vĩnh Linh sẽ trở thành các thực thể kinh tế mạnh, đóng góp lớn vào ngân sách địa phương.

6.1. Đề xuất chính sách hỗ trợ nông nghiệp từ cơ quan quản lý

Cần có các Chính sách hỗ trợ nông nghiệp tập trung vào việc miễn giảm thuế và phí cho HTX mới thành lập. Nhà nước nên đầu tư mạnh hơn vào hệ thống hạ tầng logistics nông thôn. Việc hỗ trợ kinh phí chứng nhận các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế là rất cần thiết. Các quỹ hỗ trợ phát triển HTX cần đơn giản hóa thủ tục cho vay vốn. Chính sách cần khuyến khích các mô hình liên kết giữa HTX và các viện nghiên cứu khoa học.

6.2. Hướng đi phát triển nông thôn bền vững cho thế hệ tương lai

Phát triển nông thôn bền vững gắn liền với việc bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa. HTX cần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp tuần hoàn, tận dụng phế phụ phẩm. Việc đào tạo nghề nông cho thanh niên nông thôn giúp giữ chân nguồn lao động trẻ. Tương lai của HTX nằm ở khả năng kết hợp giữa tri thức bản địa và công nghệ hiện đại. Xây dựng cộng đồng nông thôn thịnh vượng là mục tiêu cao cả nhất của mô hình kinh tế tập thể.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

13/10/2025
Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện vĩnh linh tỉnh quảng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Chƣơng 3: Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lƣợng dịch vụ của các hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ CỦA CÁC HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP 1.Lý luận về dịch vụ 1.Khái niệm dịch vụ Có nhiều khái niệm về dịch vụ, theo từ điển tiếng Việt (2004): “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và đƣợc trả công” [18].

Trong kinh tế học, dịch vụ đƣợc hiểu là những thứ tƣơng tự nhƣ hàng hóa nhƣng là phi vật chất. Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [11]. Tác giả Nguyễn Văn Thanh cho rằng:“Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hóa, phong phú hóa, khác biệt hóa, nổi trội hóa.

mà cao nhất trở thành những thƣơng hiệu, những nét văn hóa kinh doanh và làm hài lòng cao cho ngƣời tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”[8]. Nhƣ vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con ngƣời, là những hoạt động lao động tạo ra những sản phẩm hàng hóa không tồn tại dƣới dạng hình thái vật thế, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu, nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con ngƣời. Bất kỳ một tổ chức kinh doanh dịch vụ nào cũng đều hình thành những hệ thống cung ứng về dịch vụ của mình. Không có các hệ thống này thì không thể c các dịch vụ.

Mỗi loại dịch vụ cụ thể đều gắn liền với mỗi hệ thống cung ứng nhất định. Hệ thống này lại gắn kết với những ý tƣởng, chất lƣợng dịch vụ của doanh nghiệp và mức độ cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Chính vì vậy khi đề cập đến dịch vụ không thể không nói đến hệ thống cung cấp dịch vụ. Hệ thống cung ứng dịch vụ bao gồm các yếu tố vật chất và con ngƣời đƣợc tổ chức chặt chẽ theo 6 một hệ thống phối hợp hƣớng tới khách hàng nhằm đảm bảo thực hiện quá trình cung cấp và sử dụng dịch vụ một cách có hiệu quả.

Các yếu tố trong hệ thống bao gồm: khách hàng, cơ sở vật chất cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ, ngƣời cung ứng dịch vụ, hệ thống tổ chức nội bộ và bản thân dịch vụ. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hệ thống. Nếu có sự thay đổi một yếu tố này đều dẫn tới sự thay đổi toàn hệ thống và thay đổi loại hình dịch vụ. Hệ thống bao hàm quá trình hoạt động có định hƣớng, bao gồm các yếu tố vô hình và hữu hình, các yếu tố vật chất và tâm lý tình cảm đan xen nhau trong quá trình tạo ra dịch vụ.

Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có một số đặc thù, tính chất giúp ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác, và chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lƣợng và không thể nhận thấy bằng mắt thƣờng đƣợc. Peter & Angela (2006) cho rằng dịch vụ có bốn đặc trƣng cơ bản: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không lƣu trữ và tính không thể chia tách. Tính vô hình: không tồn tại dƣới dạng vật chất, dịch vụ không có hình hài. Các dịch vụ đều vô hình, không thể thấy trƣớc khi đƣợc sử dụng.

Dịch vụ không thể cấp bằng sáng chế và dịch vụ không thể trƣng bày hay quảng bá. Tính không chia cắt đƣợc (không chuyển giao quyền sở hữu): Dịch vụ thƣờng đƣợc sản xuất và tiêu dùng đồng thời hay nói cách khác quá trình sản xuất và quá trình tiêu dùng phải đồng thời diễn ra. Thiếu mặt này thì không có mặt kia, do vậy dịch vụ không thể chuyển giao quyền sở hữu. Tính không ổn định, không đồng nhất: Không có chất lƣợng đồng nhất, điều này cũng có nghĩa hầu hết ngƣời cung cấp dịch vụ đều tiếp xúc với ngƣời tiêu dùng ở một mức độ nào đó và đƣợc khách hàng cảm nhận đó nhƣ là một phần không thể tách rời khỏi sản phẩm dịch vụ đó.

Vì tính chất này nên rất khó để đánh giá đƣợc chất lƣợng dịch vụ. Tính không lƣu trữ đƣợc: Dịch vụ không đƣợc lập kho để lƣu trữ nhƣ hàng hóa đƣợc. Hoạt động cung cấp dịch vụ thƣờng đƣợc ấn định về mặt thời gian và không gian và có một công suất phục vụ đƣợc ấn định trong ngày. Công suất chỉ trở 7 nên hữu dụng khi khách hàng hiện diện tại địa điểm của nhà cung cấp dịch vụ.

Mỗi dịch vụ chỉ đƣợc tiêu dùng một lần duy nhất, không lặp lại. Dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Ngoài các tính chất trên, dịch vụ có thể đƣợc mô tả với các thuộc tính nhƣ sau: Thiếu tính chất có thể chuyên chở đƣợc: Dịch vụ phải đƣợc tiêu thụ tại nơi “sản xuất” dịch vụ. Thiếu tính đồng nhất: Dịch vụ thƣờng đƣợc sửa đổi để phù hợp cho mỗi khách hàng.

Việc sản xuất hàng loạt rất khó đối với dịch vụ. Cả việc nhập và xuất của quá trình cung cấp dịch vụ thì rất dễ biến đổi cũng nhƣ các mối quan hệ của quá trình này nên rất khó duy trì chất lƣợng đồng nhất. Yếu tố nhân lực: Dịch vụ bao gồm đáng kể các hoạt động của con ngƣời, hơn là các quá trình đƣợc định ra một cách chính xác. Vì vậy quản trị nhân lực trong kinh doanh dịch vụ là rất quan trọng, nhân tố con ngƣời thƣờng là nhân tố then chốt mang lại sự thành công trong ngành dịch vụ.

Biến động nhu cầu: Rất khó để dự đoán nhu cầu, nhu cầu dịch vụ có thể thay đổi theo mùa, thời gian trong ngày, chu kỳ kinh doanh. Phải có mặt ngƣời mua dịch vụ: Hầu hết việc kinh doanh dịch vụ đều đòi hỏi phải có mức độ tƣơng tác cao giữa khách hàng và ngƣời cung cấp dịch vụ. Lý luận về HTX và HTXNN 1. Khái niệm HTX, HTXNN a, Khái niệm HTX Hợp tác là sự kết hợp sức lực của các cá nhân hoặc đơn vị để tạo nên sức mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi cá nhân, đơn vị hoạt động riêng lẻ sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thể thực hiện đƣợc, hoặc thực hiện đƣợc cũng kém hiệu quả so với hợp tác.

Kinh tế hợp tác là một hình thức quan hệ kinh tế hợp tác tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp sức mạnh của từng thành viên với ƣu thế và sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất - kinh doanh và đời sống kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích 8 của mỗi thành viên. Kinh tế hợp tác có hai hình thức, đó là tổ hợp tác (hợp tác giản đơn) và HTX. HTX hoạt động trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Năm 1942, Ivan Emelianoff, một nhà nghiên cứu về HTX nhận xét rằng sự đa dạng của HTX là muôn màu muôn vẻ và sự biến đổi của HTX thật sự là không thể đếm xuể.

Ngày nay, HTX có mặt ở hầu hết các quốc gia và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về HTX. Liên minh HTX quốc tế (International cooperrative alliance - ICA) đƣợc thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, Vƣơng quốc Anh, đã định nghĩa HTX nhƣ sau: HTX là một tổ chức tự trị của những ngƣời tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ; Năm 1995, định nghĩa này đã đƣợc hoàn thiện: HTX dựa trên ý nghĩa tự cứu giúp mình, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng, công bằng và đoàn kết. Theo truyền thống của những ngƣời sáng lập ra HTX, các xã viên HTX tin tƣởng vào ý nghĩa đạo đức, về tính trung thực, cởi mở, trách nhiệm xã hội và quan tâm chăm sóc ngƣời khác. Tổ chức Lao động quốc tế (International Labuor Organization - ILO) định nghĩa "HTX là sự liên kết của những ngƣời đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung".

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về HTX, cũng nhƣ sự khác nhau về đặc điểm, cơ chế tổ chức, phƣơng thức hoạt động của các mô hình HTX ở các nƣớc trên thế giới, song các loại hình HTX đều có một số đặc điểm chung, đó là: HTX là một tổ chức kinh tế do các chủ thể kinh tế tự nguyện góp vốn, góp sức hình thành. Hoạt động của HTX chủ yếu nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh tế của các thành viên tham gia với phƣơng châm giúp đỡ lẫn nhau (cũng là giúp đỡ chính mình). Ngoài ra, hoạt động của HTX còn mang tính cộng đồng xã hội - tƣơng trợ, giúp đỡ 9 cộng đồng. Bởi vậy, lợi nhuận không phải là mục tiêu duy nhất của HTX.

Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, để tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX, Luật TX năm 1996 ra đời, Luật HTX năm 2003, sau đó đƣợc thay thế bởi Luật HTX năm 2012 (có hiệu lực từ 01/7/2013).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ