phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn gồm 2 chương 5 tiết. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC NGÔN NGỮ VÀ CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP CỦA NOAM CHOMSKY 1. Khái quát về triết học ngôn ngữ 1.
Triết học ngôn ngữ là gì? Ngôn ngữ là một chủ đề luôn tạo được sự quan tâm và lôi cuốn đối với các nhà nghiên cứu. Triết học ngôn ngữ gắn liền với lý thuyết ngôn ngữ học. Bàn về bản chất và vai trò của ngôn ngữ đã được các nhà triết học đề cập đến từ thời cổ đại và việc nghiên cứu ngôn ngữ cho đến nay phản ánh rõ ràng lập trường nghiên cứu của họ đối với các vấn đề cơ bản của triết học. Triết học ngôn ngữ trước hết là một lĩnh vực của triết học nghiên cứu hoạt động ngôn ngữ.
Triết học ngôn ngữ xem xét hoạt động ngôn ngữ như một đối tượng đã biết và tìm hiểu mối quan hệ của nó với những đối tượng khác, được coi là khu biệt với nó. Nó đi vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ học và triết học, giữa ngôn ngữ và tư duy, giữa ý thức và hiện thực khách quan, đi vào nguồn gốc và sự phát triển lịch sử của ngôn ngữ, bản chất và vai trò và giá trị của ngôn ngữ cũng như sự phụ thuộc về mặt thế giới quan và phương pháp luận của các công trình nghiên cứu triết học về ngôn ngữ và ngôn ngữ học, v. tức là nó nghiên cứu mặt bên ngoài của ngôn ngữ. Triết học ngôn ngữ cũng được hiểu là sự nghiên cứu về mặt triết học các quy luật bên trong của sự cấu tạo và sử dụng ngôn ngữ.
Lĩnh vực này đặt trọng tâm vào phân tích ngôn ngữ, khảo sát những vấn đề của cú pháp logic, ngữ nghĩa logic, giao tiếp ngôn ngữ hoặc cái gọi là “hàng rào ngôn ngữ”. Đặc biệt gần đây sự lạm dụng tên gọi của các công trình triết học phân tích được mệnh danh là triết học ngôn ngữ đã gây ra những hướng suy nghĩ không đúng về triết học ngôn ngữ. Cũng có ý kiến phân biệt triết học ngôn ngữ, lĩnh vực chủ yếu đi sâu những vấn đề của nhận thức với triết học của ngôn ngữ học, vốn quan tâm đến vấn đề lý thuyết và phương pháp nghiên cứu. Cách phân chia như thế không cơ bản vì không thể tách rời nhận thức với lý thuyết và phương pháp.
Triết học ngôn ngữ cần phải được nhận thức lại cho phù hợp với vị trí và vai trò của nó trong triết học, trong 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngôn ngữ học cũng như trong lịch sử các khoa học nói chung. Theo chúng tôi, triết học ngôn ngữ theo nghĩa rộng là tập hợp những luận điểm, những quan niệm triết học về nguồn gốc, bản chất và chức năng hoạt động của ngôn ngữ, bản chất của ý nghĩa (meaning), và nhận thức ngôn ngữ đồng thời luận chứng cho mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ý thức, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thế giới. Theo nghĩa hẹp, triết học ngôn ngữ còn được xem như một lĩnh vực nghiên cứu của triết học có nhiệm vụ không chỉ nghiên cứu mối liên hệ qua lại giữa tư duy và ngôn ngữ mà còn làm rõ vai trò xây dựng của ngôn từ câu cú trong các hình thức tranh biện khác nhau, trong nhận thức và trong cấu trúc của ý thức và tri thức. Để hiểu được những nét cơ bản của triết học ngôn ngữ với tư cách là một lĩnh vực của triết học trước hết chúng ta hãy điểm qua lịch sử hình thành và phát triển của nó.
Khái lược lịch sử triết học ngôn ngữ Thuật ngữ “triết học ngôn ngữ” do P.N Volosilow (1929) đề xuất và được phổ biến rộng rãi vào những năm 50 - 60 của thế kỷ XX, chủ yếu ở Đức, Anh, Mỹ, và một số nước Đông Âu… với các đại diện tiêu biểu như Carnap, Quine, Tarski, Wittgenstein hậu kỳ. Tuy nhiên, những tư tưởng về triết học ngôn ngữ đã có từ thời Cổ đại. Nó gắn liền với lý thuyết ngôn ngữ. Thời Cổ đại Triết học ngôn ngữ có lẽ cũng có một lịch sử lâu dài như chính lịch sử triết học vậy.
Ngay từ thời cổ đại, một số triết gia đã có những suy ngẫm mang tính triết học về ngôn ngữ. Ở Phương Tây, nghiên cứu về ngôn ngữ trải dài trở lại thế kỷ thứ V TCN với Socrates (470-399 TCN), Plato (429-347 TCN), Aristotles (384-322 TCN), và các nhà khắc kỷ (trường phái triết học Stoics). Trong các nghiên cứu của họ, ngôn ngữ có một vị trí quan trọng. Đến nay, chúng ta không biết nhiều về các nghiên cứu của Socrates.
Ông không để lại tác phẩm nào. Chỉ có thể tìm thấy quan điểm của ông trong một số tác phẩm của Xenophone (430-355 TCN) hay của Plato, song cũng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khó có thể nói được đâu là quan điểm của Socrates. Ở Hy Lạp cổ đại, các triết gia tranh luận chủ yếu xoay quanh hai đề tài: nguồn gốc ngôn ngữ và mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy. Xoay quanh đề tài thứ nhất, có hai quan niệm trái ngược nhau: một số (các nhà ngụy biện và khắc kỷ thuộc trường phái triết học Stoics) cho rằng ngôn ngữ xuất hiện một cách tự nhiên; số khác lại cho rằng ngôn ngữ nảy sinh theo thói quen.
Một bên là chủ trương từ của ngôn ngữ là do tự nhiên, do bản tính của sự vật mà có, và một bên là chủ trương từ do quy ước mà có. Các quan điểm này xuất phát từ tranh luận về mối quan hệ giữa tên gọi (từ) và sự vật. Aristotles, nhà triết học vĩ đại thời cổ đại, theo quan điểm thứ hai, cho rằng: “Ngôn ngữ hình thành do thói quen vì tự nhiên không đẻ ra tên gọi… Lời nói là sự thể hiện của tư tưởng kinh nghiệm, còn văn tự là sự thể hiện của lời nói. Chủng tộc khác nhau thì lời nói và chữ viết không giống nhau.
Nhưng sự phản ánh của tư tưởng con người là giống nhau, từ vựng của một ngôn ngữ là dấu hiệu tư tưởng” [trích theo 35, tr.CN), nhà triết học duy tâm khách quan, là học trò của Socrates. Ông đã nhớ lại lời dạy của thầy và viết thành nhiều quyển sách dưới hình thức đối thoại. Trong các đối thoại, Cratylus là tác phẩm bàn kỹ nhất về ngôn ngữ. Plato đã có nhiều đóng góp có giá trị khi nghiên cứu mối quan hệ giữa tên gọi và vật.
Trong đối thoại Cratylus, Plato đặt ra câu hỏi liệu tên các sự vật được xác định theo quy ước hay theo tự nhiên? Tên biểu hiện một thuộc tính nào đó của đối tượng được gọi tên. Ông phê phán quan điểm quy ước vì hậu quả dẫn đến của nó là mọi vật đều có thể được gọi tên theo quy ước. Do đó, nó không thể giải thích việc ứng dụng chính xác hoặc không chính xác của một tên gọi. Ông tuyên bố rằng có một tính đúng đắn tự nhiên cho các tên.
Ông chỉ ra rằng từ ghép và cụm từ sẽ có một loạt các tính đúng đắn. Ông cũng cho rằng tên nguyên thủy đã có một đúng đắn tự nhiên, bởi vì mỗi âm vị đại diện các ý tưởng cơ bản hay những cảm xúc. Tên gọi là hình mẫu, cho nên nó không biểu hiện toàn bộ đối tượng mà chỉ biểu hiện những thuộc tính có sẵn, gọi là bản tính của vật. Gọi tên đúng bản tính của vật, biểu hiện việc sử dụng đúng các vật (ứng với bản tính của chúng) trong hoạt động ngoài ngôn ngữ.
Ngoài ra, ông cũng bàn đến mối quan hệ giữa tư tưởng và lời nói. Platon cho rằng có sự thống 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhất giữa tư tưởng và sự biểu đạt bằng lời nói. Cái khác duy nhất là sự biểu đạt bằng lời kèm theo âm thanh. Theo ông: “ý kiến là sự biểu đạt bằng lời, nhưng nếu không có sự tham gia của giọng nói và nếu không nói với người khác chỉ yên lặng, hướng về bản thân (Thêêtet)” [trích theo 36, tr.
“Bởi vậy, tư tưởng và lời nói là một, ngoại trừ cuộc nói chuyện của tinh thần với chính mình, chỉ nảy ra ở bên trong nó và không thành tiếng, mà ta gọi là tư duy” (Sophist)” [trích theo 36, tr. Hạn chế của ông là chỉ phân tích cấu trúc phán đoán logic biểu đạt bằng ngôn ngữ, chưa đi sâu vào phân tích ngữ pháp. Aristotles không chỉ bàn về nguồn gốc ngôn ngữ mà còn khẳng định rằng từ tự thân có ý nghĩa nhất định nhưng không thể chia thành những thành tố nhỏ hơn. Nghĩa của từ được cho gián tiếp qua ý niệm về sự vật trong ý thức con người.
Ông cũng quan tâm đến mối quan hệ giữa tư tưởng và lời nói. Ông nghiên cứu ngôn ngữ bằng việc gắn logic với sự biểu đạt tư duy bằng ngôn ngữ. Theo Aristotle, từ là biểu đạt của những khái niệm trong trí óc và không trực tiếp là hình ảnh âm thanh của sự vật. Từ đó, ông quan niệm rằng hình thức ngôn ngữ cũng là hình thức của tư duy, vì các phạm trù ngữ pháp và các phạm trù logic gắn chặt nhau.
Tư tưởng của Zenon (496-429 TCN) cũng giống tư tưởng của Aristotle, ông cho rằng nghiên cứu hình thức tư duy không thể tách rời việc nghiên cứu các biểu đạt ngôn ngữ, vì nói đúng và tư duy đúng đều là việc của cùng một người. Epicure (341-270 TCN), nhà duy vật nổi tiếng thời kỳ Hy Lạp hóa đã đi sâu vào mặt xã hội của sự hình thành và phát triển ngôn ngữ. Từ không phải được tùy tiện đặt ra mà bản chất của con người trong mỗi dân tộc có cách thể hiện riêng thành tiếng những cảm nghĩ của mình, trong đó sự khác biệt về nơi cư trú cũng có vai trò nhất định. Dần dần các dân tộc chấp nhận những quy ước sử dụng chung, hạn chế tính đa nghĩa của phát ngôn, làm cho nó ngắn và sát yêu cầu sử dụng hơn.
Trường phái Stoics là một trường phái triết học hoạt động từ thế kỷ thứ III TCN đến thế kỷ thứ IV SCN. Họ là những người phản đối quan điểm của Aristotles. Họ cho rằng ngôn ngữ có nguồn gốc tự nhiên. Quan điểm ngôn ngữ của trường phái này được tổng kết như sau: “Con người ta khi sinh ra, bộ não giống như một trang 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giấy trắng, có thể viết được chữ trên đó” [trích theo 35, tr.
Điều đó rất gần với “thuyết bảng trắng” sau này. Bản thân ngôn ngữ không là trí tuệ nhưng là sự thể hiện của trí tuệ.