Mở đầu cho Phần phân tích thực trạng cho vay cũng nhƣ các luận văn trƣớc luận văn có phần giới thiệu ngân hàng mà mình đang tiến hành nghiên cứu; quá trình hình thành và phát triển, mạng lƣới hoạt động, mô hình tổ chức, hiện trạng hoạt động kinh doanh. Ngoài ra các tác giả đã tìm hiểu tình 7 hình hoạt động của các ngân hàng khác trên địa bàn, số liệu nghành, so sánh với các chỉ tiêu ngân hàng mình đang nghiên cứu nhằm xác định vị thế trên thị trƣờng. Để phân tích thực trạng các tác giả đã lần lƣợt phân tích các chỉ tiêu ; tỉ trọng dƣ nợ cho vay của các doanh nghiệp, thực trạng tăng trƣởng dƣ nợ bình quân DN, thực trạng biến động cơ cấu dƣ nợ, thực trạng chất lƣợng dịch vụ vay vốn DN, thực trạng thu nhập từ hoạt động cho vay đối với DN, thực trạng kiểm soát rủi ro cho vay doanh nghiệp, những hạn chế và nguyên nhân trong qúa trình mở rộng cho vay. Mỗi phần phân tích tác giả đã sử dụng nhiều tài liệu, bảng biểu phục vụ cho quá trình phân tích, số liệu đƣợc chọn lọc và có tính cập nhật, số liệu trích dẫn và lý luận phân tích có mối liên hệ chặt chẽ, đồng nhất, tập trung làm rõ những vấn đề có liên quan đến nội dung mà tác giả đang quan tâm.
Quá trình phân tích những biến động tăng, giảm đã nêu đƣợc nguyên nhân, Qua đó tác giả đã có cái nhìn tổng thể hoạt động ngân hàng nói riêng, thị trƣờng tiền tệ nói chung trong giai đoạn nghiên cứu. Phần giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tác giả đã đƣa ra nhiều giải pháp đối với ngân hàng, nhƣ đa dạng hóa đối tƣợng khách hàng, xây dựng chính sách cho vay doanh nghiệp, hoàn thiện chính sách khách hàng và chăm sóc khách hàng, tăng cƣờng công tác kiểm soát rủi ro trong cho vay DN nâng cao năng lực tài chính, các giải pháp về công nghệ, về con ngƣời… Các tác giả cũng đƣa ra một số kiến nghị với tỉnh về chính sách khuyến khích đầu tƣ, với ngân hàng nhà nƣớc về hoàn thiện quy chế cho vay, đảm bảo tiền vay… Đánh giá chung các đề tài trên là những công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, và có chất lƣợng. Các tác giả đã bỏ nhiều thời gian, công sức tìm hiểu, phân tích thực trạng hoạt động ngân hàng từ đó đƣa ra nhiều giải 8 pháp, kiến nghị thiết thực đóng góp vào sự phát triển hoàn thiện hoạt động của hệ thống ngân hàng. Những giải pháp đƣa ra có tính ứng dụng cao có thể tham khảo áp dụng cho cả hệ thống ngân hàng, là những đóng góp thiết thực vào việc phát triển lành mạnh, và chuyên nghiệp hóa hệ thống ngân hàng góp phần ổn định kinh kế quốc gia.
9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. CHO VAY DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.1 Họat động cho vay của ngân hàng thƣơng mại a. Tín dụng ngân hàng Khái niệm tín dụng ngân hàng: Theo luật các TCTD 47/2010/QH12 “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, các nghiệp vụ khác.” Theo ông Louis Baundin, một nhà kinh tế pháp, tín dụng là “một sự trao đổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa trong tƣơng lai.” Trong quan điểm này ta thấy vai trò của yếu tố thời gian, vì vậy tín dụng luôn ẩn chứa yếu tố rủi ro và cũng chính vì vậy hai bên trong quan hệ tín dụng cần có sự hiểu biết và tin tƣơng nhất định. Xét về góc độ ngân hàng: Tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp hay các chủ thể kinh tế khác), trong đó bên cho vay chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên đi vay trong một thời gian nhất định, bên vay có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn theo thỏa thuận.
Nhƣ vậy TDNH Là quan hệ chuyển nhƣợng vốn giữa một bên là ngân hàng với một bên là các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình trong xã hội. Trong đó, ngân hàng giữ vai trò là vừa là ngƣời đi vay, vừa là ngƣời cho vay. 10 Mối quan hệ này dựa trên sự tín nhiệm lẫn nhau, là một sự thỏa thuận trên quan hệ bình đẳng đôi bên cùng có lợi và đƣợc pháp luật bảo hộ. Đặc điểm tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dƣới hình thức tiền tệ: Gồm tiền mặt và bút tệ.
Để tập trung đƣợc nguồn vốn cũng nhƣ để đáp ứng mọi nhu cầu một cách linh hoạt thì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp nhất. Ngân hàng là chủ thể trong quan hệ tín dụng: Với vai trò vừa là ngƣời đi vay vừa là ngƣời cho vay. NHTM đóng vai trò là chủ thể trung tâm trong quan hệ tín dụng. Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhƣợng có xác định thời hạn.
Để đảm bảo việc cấp tín dụng theo đúng thời hạn, đúng tiến độ đồng thời hoàn trả vốn vay kịp thời khi đến hạn, thời hạn tín dụng phải đảm bảo tính chính xác. Thời hạn cho vay của tín dụng rất phong phú: gồm 3 hình thức cho vay ngắn hạn trung hạn và dài hạn vì vậy cần điều chỉnh giữa các nguồn vốn để đáp ứng các nhu cầu khác nhau về thời hạn vay vốn. Tín dụng ngân hàng mang tính hoàn trả, giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị vay ban đầu, phần chênh lệch giữa giá trị hoàn trả và giá trị ban đầu gọi là lãi vay, đây có thể coi là khoản chi phí sử dụng vốn vay. Lãi vay cao hay thất thông qua việc tính toán mức lãi suất từng thời điểm trong đó có xét đến những yếu tố bất lợi của thị trƣờng có thể sảy ra.
Quan hệ tín dụng là quan hệ dựa trên sự tin tƣởng: Tin tƣởng vào việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, và có khả năng tạo ra thu nhập để hoàn trả gốc và lãi đúng hạn. 11 Tín dụng ngân hàng đƣợc cấp dƣới nhiều hình thức nhƣ cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính…, trong đó cho vay là hình thức cơ bản và chủ yếu. Hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại Khái niệm cho vay: Theo quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng theo đó bên cho vay cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi” Nguyên tắc cho vay: - Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng - Phải hoàn trả gốc và lãi đúng hạn Vai trò của cho vay: - Thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Cho vay là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ, giúp điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, góp phần duy trì, thúc đẩy quá trình kinh doanh đƣợc thƣờng xuyên, liên tục.
- Cho vay là công cụ giúp nhà nƣớc điều hành thị trƣờng tài chính, Các mục tiêu vĩ mô nhƣ ổn định tiền tệ, tỉ giá, tăng trƣởng kinh tế, tạo công ăn việc làm đều đƣợc điều hành thông qua các chính sách can thiệp của nhà nƣớc vào thị trƣờng tài chính. Nhà nƣớc điều chỉnh quan hệ cung cầu tiền tệ thông qua việc điều chỉnh tỉ giá từ đó có thể làm thay đổi qui mô, hƣớng vận động của nguồn vốn tín dụng, tác động thay đổi cơ cấu đầu tƣ, qua đó đạt đƣợc các mục tiêu vĩ mô. -Là công cụ thực hiện chính sách xã hội của nhà nƣớc 12 Thông qua những chính sách ƣu đãi về lài suất, hay bằng việc nới lỏng điều kiện vây vốn nhà nƣớc có thể thực hiện chính sách xã hội cho các đối tƣợng cần đƣợc hỗ trợ. -Cho vay tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế.
Khi nền kinh tế thế giới đã và đang trong quá trình toàn cầu hóa thì hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam là yêu cầu cấp thiết khách quan. Hoạt động ngân hàng nói chung và cho vay ngân hàng nói riêng đã trở thành công cụ hết sức quan trọng trong việc tài trợ và mở rộng sản xuất, xuất khẩu hàng hóa dịch vụ, nhờ vào nguồn tín dụng đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hóa nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp Tóm lại: Cho vay là cầu nối trung gian, linh hoạt về nguồn vốn qua đó góp phần thai thác các nguồn tài nguyên, nguồn lực lao động tạo cơ sở tiền đề cho tăng trƣởng và phát triển xã hội. Các hình thức cho vay của NHTM: Dựa vào những yêu cầu và mục tiêu quản lý của ngân hàng Hoạt động cho vay có thể chia làm 4 loại sau: Căn cứ vào mục đích vay: Cho vay kinh doanh: Là hình thức cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của các doanh nghiêp, hộ sản xuất kinh doanh. Cho vay tiêu dùng: Là hoạt động cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các tầng lớp dân cƣ nhƣ chi thƣờng xuyên, mua sắm phƣơng tiện sinh hoạt, làm nhà … Căn cứ vào thời hạn vay: Cho vay ngắn hạn: Là khoản vay có thời hạn đến 12 tháng, thƣờng là tài trợ cho việc đầu tƣ vào tài sản lƣu động hoặc các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Cho vay trung hạn và dài hạn: 13 Là các khoản cho vay có thời hạn trên 12 tháng. Ở Việt Nam, các khoản vay trên 1 năm đến 5 năm đƣợc gọi là cho vay trung hạn, các khoản vay có thời hạn trên 5 năm đƣợc gọi là cho vay dài hạn. Căn cứ vào phƣơng thức cho vay: Cho vay từng lần: Khi có nhu cầu vay vốn, khách hàng và ngân hàng làm thủ tục vay vốn và ký hợp đồng tín dụng cho từng lần vay độc lập. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Căn cứ vào chu kỳ sản xuất kinh doanh, dòng tiền của khách hàng.
NH và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoản thời gian nhất định theo hợp đồng tín dụng.