đặt vấn đề nghiên cứu về đồng thuận xã hội nhƣng các ông đã mong muốn xây dựng một xã hội lấy sự đồng thuận giữa các tầng lớp, giữa các dân tộc làm cơ sở. Thực hiện đƣợc điều đó, cần tôn trọng lợi ích của các tầng lớp, các dân tộc và đề cao tinh thần tự nguyện. Để tiến tới một xã hội nhƣ vậy, phải xóa bỏ tƣ hữu tƣ nhân tƣ bản chủ nghĩa, thiết lập chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất. Tƣ tƣởng đó vẫn soi sáng cho con đƣờng xây dựng đồng thuận xã hội ở nƣớc ta hiện nay.
* Tư tưởng ở Việt Nam Đối với Việt Nam, vào thời Trần, đƣờng lối chính trị thân dân và khoan dung đƣợc coi trọng và phát triển. Giữa vua, quan và nhân dân chƣa có sự cách biệt. Trong các lễ hội, vua quan và nhân dân cùng nắm tay nhau múa hát. Vua e 15 Trần Nhân Tông thƣờng nhắc nhở con cháu mình chớ quên rằng, tổ tiên họ xƣa kia cũng chỉ là những ngƣời dân đen.
Nếu ngƣời dƣới có lỗi, các vua nhà Trần thƣờng nhận là do lỗi của mình trƣớc, xét xử đầy khoan hậu, ít nghiêm khắc. Xe vua gặp các gia nô nhà vƣơng hầu thƣờng dừng lại hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ. Nhà vua cho rằng, khi có binh biến thì chỉ có những con ngƣời đó đi theo mà thôi. Chính vì coi trọng đƣờng lối khoan dung, dƣỡng sức dân, coi trọng sự đồng tình ủng hộ của nhân dân mà nhà Trần ba lần đại thắng quân Nguyên – Mông.
Thắng lợi đó là do cả nƣớc đồng lòng góp sức đánh giặc, đoàn kết toàn dân, vua – tôi hòa mục, quan dân đồng lòng. Vị tƣớng tài tiêu biểu cho cuộc kháng chiến đó là Trần Quốc Tuấn. Ông chủ động bỏ qua mối bất hòa giữa gia đình và hoàng gia, khuyên vua khoan thƣ sức dân là kế sâu rễ bền gốc. Ông rất coi trọng sự hòa hợp giữa tƣớng sĩ, giữa các quan lại trong hoàng tộc, trong triều đình và nhân dân.
Thời Trần đúng là vua – tôi hòa mục, quan dân đồng lòng, cả nƣớc góp sức. Năm 1400 nhà Hồ thay thế nhà Trần. Hồ Qúy Ly tiến hành một số cải cách những không đƣợc sự ủng hộ của đa số nhân dân. Năm 1406, giặc Minh xâm lƣợc nƣớc ta.
Chỉ mấy tháng sau cuộc kháng chiến, nhà Hồ thất bại vì không đƣợc lòng dân, không đƣợc nhân dân ủng hộ, đúng nhƣ lo lắng của Hồ Nguyên Trừng: “Không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo” [5, tr. Dù có thành cao, hào sâu, nhà Hồ cũng không giữ đƣợc nƣớc vì Hồ Qúy Ly “đánh giặc một mình”. Sau 10 năm gian khổ chống quân Minh dƣới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãi, đất nƣớc sạch bóng quân thù, nhà Lê đƣợc thiết lập. Đƣờng lối khoan dung, nhân nghĩa của Nguyễn Trãi góp phần quan trọng đƣa đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống giặc Minh.
Trong tác phẩm Lam Sơn thực lục, ông từng viết về sự khoan dung của Lê Lợi: “Phàm ngƣời bất bình về việc nhỏ mà bổng sinh chí khác thì trẫm thƣờng khoan thứ, dung cho tội lỗi, tuy từng lật mặt oán thù, trầm vẫn tin dùng. Vua tôi cần lấy nghĩa lớn và xử với nhau, thân nhau e 16 nhƣ ruột thịt, thế cho nên đƣợc lòng ngƣời, mà ai ai cũng vui theo”.185] Trong Bình Ngô đại cáo cũng thể hiện rất rõ tinh thần khoan dung, nhân nghĩa của dân tộc ta: “Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cƣờng bạo”. Lòng khoan dung của dân tộc ta đƣợc thể hiện cả với kẻ thù. Khi chúng thất bại đầu hàng, triều đình đã tha mạng sống cho 10 vạn binh sĩ, lại cấp ngựa, chiến thuyền, lƣơng thảo cho về nƣớc.
Đây là một hành động hiếm có trong lịch sử mà ngàn đời sau còn ca ngợi. Tƣ tƣởng khoan dung đó còn thể hiện rất rõ trong Quân trung từ mệnh tập. Qua những thƣ từ gửi cho các tổng binh, đô đốc và tƣớng lĩnh nhà Minh, Nguyễn Trãi thay mặt cho nghĩa quân luôn kêu gọi chúng mau chóng quy hàng để quân lĩnh hai bên đỡ chết chóc, nhân dân hai nƣớc đỡ đau khổ. Kế thừa truyền thống khoan dung, độ lƣợng, vị tha của dân tộc, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ chính trị đến quân sự, ngoại giao, Đảng ta luôn thể hiện tinh thần đó.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dù kẻ thù đã gieo bao đau thƣơng, tang tóc cho nhân dân, nhƣng khi chúng bại trận, Chính phủ và nhân dân ta đối xử rất khoan hồng. Trong công cuộc xây dựng đất nƣớc hôm nay, chúng ta vẫn tiếp tục phát huy truyền thống đó. Chúng ta sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nƣớc trên thế giới. Là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo nhƣng Việt Nam có truyền thống đoàn kết dân tộc, hòa đồng tôn giáo.
“Tam giáo đồng nguyên” là biểu hiện cho tinh thần khoan dung ấy. Trong quá trình đấu tranh bảo vệ đất nƣớc, các dân tộc cùng sát cánh bên nhau để giữ gìn non sông. Lịch sử nƣớc ta chƣa hề có chiến tranh giữa các tộc ngƣời nhƣ đã từng xảy ra ở một số nƣớc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mƣờng hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt.
Chúng ta sống chết có nhau, sƣớng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhƣng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lƣợng lại để giữ e 17 vững quyền tự do, độc lập của chúng ta” [9, tr. Thực tế lịch sử đã chứng minh, từ khi các vua Hùng dựng nƣớc cho đến nay, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, các tộc ngƣời trong dân tộc Việt Nam vẫn luôn đoàn kết để bảo vệ đất nƣớc. Trong hai cuộc kháng chiến chống bọn thực dân cƣớp nƣớc, nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã trở thành căn cứ địa cách mạng.
Đồng bào các dân tộc trong gian khổ, khó khăn vẫn một lòng đi theo Đảng, bảo vệ Đảng. Trong công cuộc xây dựng đất nƣớc hôm nay, đồng bào các dân tộc lại sát cánh bên nhau, cùng thực hiện mục tiêu “dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Kẻ thù đã có nhiều âm mƣu chia rẽ các dân tộc, gây nên những xung đột, mâu thuẫn nhƣng đồng bào các dân tộc đã nhận thức đƣợc bộ mặt thật của chúng, nâng cao cảnh giác, đập tan mọi âm mƣu và hành động gây chia rẽ. Trong lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm, trƣớc thế mạnh của quân Nguyên – Mông, nhà Trần tổ chức Hội nghị Diên Hồng là muốn biết ý chí của nhân dân ra sao, lòng dân thế nào để đƣa ra quyết sách.
Ở bất cứ thời đại nào, dù giai cấp nào nắm quyền thống trị thì cũng không thể xem nhẹ sự đồng tâm, nhất trí của nhân dân, không thể không chú trọng vai trò của nhân dân. Đảng và Nhà nƣớc ta đƣa ra các chủ trƣơng, chính sách trƣớc hết phải bảo đảm lợi ích của các tầng lớp nhân dân, có nhƣ vậy mới có thể đƣợc nhân dân đồng tình ủng hộ. Xây dựng đồng thuận xã hội không phải là một sách lƣợc mà là một chiến lƣợc quan trọng để đƣa đất nƣớc phát triển. Điều này phù hợp với lý luận mácxít về vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử.
Chủ trƣơng xây dựng đồng thuận xã hội chính là đề cao vai trò của quần chúng nhân dân. Cảm nhận chính trị của nhân dân rất nhạy bén. Nhân dân sẽ thấy đƣợc điều đó và dễ đồng tâm, nhất trí với Đảng, Nhà nƣớc trong mọi chủ trƣơng, chính sách. Đó là điều kiện căn bản để ổn định chính trị - xã hội.
Đoàn kết dân tộc, tôn trọng sự khác biệt của các tín ngƣỡng, tôn giáo, hòa đồng về tôn giáo là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Truyền thống đó là một e 18 trong những cơ sở quan trọng để xây dựng sự đồng thuận xã hội. Đề ra chủ trƣơng xây dựng sự đồng thuận xã hội hôm nay cũng chính là dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống đó trong điều kiện mới.3 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đồng thuận xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của đại đoàn kết toàn dân tộc. Ngƣời nói đến đại đoàn kết cũng chính là nói đến đồng thuận xã hội.
Trong di sản tƣ tƣởng của Ngƣời, điều đó đƣợc thể hiện rất rõ. Dù trong bối cảnh nào, với bất cứ đối tƣợng nào, Ngƣời cũng tìm đƣợc điểm tƣơng đồng để kêu gọi toàn dân đoàn kết với nhau vì mục tiêu chung. Ngay cả với những ngƣời Việt Nam lầm đƣờng lạc lối, Ngƣời vẫn coi là dòng dõi của tổ tiên ta, đều mang dòng máu con Lạc cháu Hồng nên phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Với các tầng lớp nhân dân, Ngƣời kêu gọi đoàn kết tất cả những ngƣời thực sự yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc đảng phái nào, tôn giáo nào, tầng lớp nào và quá khứ họ đã hợp tác với phe nào.
Để xây dựng sự đồng thuận xã hội, Ngƣời rất coi trọng công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục để các giai cấp, tầng lớp tự nguyện thống nhất với nhau vì mục tiêu chung chứ không phải là ép buộc, cƣỡng bức. Ngƣời nói: “Phải đi đƣờng lối quần chúng, không đƣợc quan liêu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân”. Với Ngƣời, đồng thuận không có nghĩa là không còn đấu tranh mà đấu tranh với tất cả tính phức tạp, uyển chuyển của nó. Trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa II, Ngƣời đã phê bình tình trạng “thiên về đoàn kết một chiều, kém đấu tranh, giúp đỡ, phê bình, giáo dục”.
Cũng cần phải tránh sự đồng thuận hình thức theo kiểu “bằng mặt mà không bằng lòng”. Đồng thuận theo kiểu đó sẽ không bền vững và sớm muộn gì sự bất đồng cũng sẽ xảy ra. Việc Đảng ta chủ trƣơng xây dựng sự đồng thuận xã hội chính là sự kế thừa, phát triển tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới của đất nƣớc. Về nguyên tắc, đồng thuận xã hội là yếu tố thuộc bản chất của xã hội xã hội e 19 chủ nghĩa (XHCN), là mục tiêu phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.