Chương 1: Một số van dé lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy Chương 2: Quy định của pháp luật hiện hành và thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn thành phô Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bích Đại học Luật Hà Nội 11 PHAN NỘI DUNG CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VA PHAP LY VE XU PHẠT VI PHAM HANH CHÍNH TRONG LĨNH VUC PHONG CHAY, CHỮA CHAY 1.Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy 1. Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy VỊ phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy là một loại vi phạm hành chính. Pháp luật hiện hành không có định nghĩa về vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy mà chỉ có định nghĩa về vi phạm hành chính.
Khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 định nghĩa: “Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính ”. Định nghĩa này kế thừa các quy định pháp luật trước đó về vi phạm hành chính như Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06/07/1995; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 02/07/2002 (được sửa đôi bố sung năm 2007 va năm 2008). Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra trong Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989. Điều | của Pháp lệnh này đã chỉ rõ: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cô ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Đên Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì không đưa ra định nghĩa trực tiếp về vi phạm hành chính, mà quy định gián tiếp thông qua khái niệm xử phạt vi phạm hành chính “Xử phat vi phạm hành chính duoc áp dung đối với cd nhân, GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bích Đại học Luật Hà Nội 12 tổ chức có hành vi cô ý hoặc vô ý vi phạm các quy tắc về quan lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính ”. Các định nghĩa về vi phạm hành chính đều thống nhất chỉ ra các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của một vi phạm hành chính như : hình thức của vi phạm hành chính là hành vi, có thể là thực hiện hành vi bị pháp luật cắm, không thực hiện hành vi pháp luật quy định phải thực hiện hoặc thực hiện hành vi không đúng theo (thủ tục) pháp luật yêu cầu; chủ thé của vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức; tính chất của vi phạm hành chính thé hiện ở chỗ hành vi vi phạm đã xâm phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội không cao và không phải tội phạm; tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm thì chủ thé bi xử phạt vi phạm hành chính. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC cũng có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của vi phạm hành chính nói chung.
Tuy nhiên vẫn có những đặc điểm riêng biệt, như là khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC là các quy định pháp luật về phòng cháy, chữa cháy nên các hình thức xử phạt hoặc các biện pháp cưỡng chế với vi phạm hành chính trong lĩnh vực này cũng có đặc thù riêng. Qua khái niệm về vi phạm hành chính và các phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC như sau: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về phòng cháymà không phải tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bi xử phạt vi phạm hành chính. Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC cũng mang đầy đủ các đặc điểm của vi phạm hành chính nói chung, đồng thời có những đặc trưng riêng dé phân biệt với các vi phạm hành chính khác. Vi phạm hành chính trong lĩnh GVHD: TS.
Nguyễn Ngọc Bích Đại học Luật Hà Nội 13 vực phòng cháy và chữa cháy có những đặc điểm sau: Thứ nhất, vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy là hành vi trái với các quy định pháp luật về PCCC. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC trước hết phải là hành vi của con người hoặc là hoạt động của các cơ quan, tổ chức có tính nguy hiểm cho xã hội. Là những hành vi vi phạm trong lĩnh vực PCCC, vi phạm hoặc thực hiện không đúng các quy định của nhà nước, pháp luật về PCCC, xâm phạm đến khách thé được pháp luật PCCC bảo vệ. Hanh vi đó có thể biéu hiện bằng hành động hoặc không hành động của các chủ thé pháp luật PCCC.
Pháp luật PCCC không điều chỉnh những suy nghĩ, quan niệm, tư tưởng khi chưa biểu hiện thành các hành vi cụ thể. Hành vi trái pháp luật PCCC là hành vi được thực hiện không đúng với những quy định của pháp luật PCCC như không làm những việc mà pháp luật PCCC yêu cầu, làm những việc mà pháp luật PCCC cắm hoặc tiễn hành những hoạt động vượt quá giới hạn, phạm vi cho phép của pháp luật PCCC,. Theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy: phòng, chống bạo lực gia đình (sau đây gọi tắt là Nghị định 167/2013/NĐ-CP) thì những hành vi thực hiện trái với quy định về PCCC như là: Không bố trí, niêm yết tiêu lệnh, biển báo, biển cấm, bién chi dẫn về phòng cháy và chữa cháy; Không cử người có trách nhiệm tham gia đoàn kiểm tra an toàn phòng cháy và chữa cháy; Không thực hiện việc báo cáo về công tác phòng cháy và chữa cháy; Không có biện pháp, phương tiện ngăn ngừa tích tụ tĩnh điện theo quy định;. Điểm d khoản 1 Điều 3 luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về nguyên tắc xử ly vi phạm hành chính như sau: “Chi xứ phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định ”.Vì vậy, muốn biết một hành vi nào đó xâm hại đên các quan hệ xã hội do cá nhân hoặc tô chức thực hiên có phải GVHD: TS.
Nguyễn Ngọc Bích Đại học Luật Hà Nội 14 là vi phạm hành chính trong PCCC hay không thì cần phải căn cứ vào các quy định, yêu cầu trong các quy phạm pháp luật PCCC. Tứ hai, chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC. Chủ thê vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC là các tô chức, cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính đã thực hiện hành vi vi pham.Theo quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về lĩnh vực PCCC hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC phải là người không mac bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mắt kha năng nhận thức hoặc khả năng điều khiến hành vi và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật, cụ thé là: - Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính trong trường hop thực hiện hành vi với lỗi cô ý. Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi nay có vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC hay không cần xác định yếu tô lỗi trong mặt chủ quan của họ.
Thông thường người thực hiện hành vi với lỗi có ý là người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cắm nhưng vẫn thực hiện. - Người từ đủ 16 tuổi trở lên có thé là chủ thé vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC trong mọi trường hợp thực hiện vi phạm. Tổ chức là chủ thé của vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC bao gồm: các cơ quan hành chính nhà nước, các tô chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tô chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật. - Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thé vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng các quy định của Điều ước quốc tế đó.
Thứ ba, vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC là hành vi có lôi của chủ thé. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC phải là hành vi có lỗi thể hiện GVHD: TS. Nguyễn Ngọc Bích Đại học Luật Hà Nội 15 dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Lỗi cố ý trực tiếp trong trường hợp chủ thé vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình gây nguy hiểm hoặc đe dọa gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm do hành vi của mình gây ra và mong muốn điều đó xảy ra.
Lỗi cô ý gián tiếp trong trường hợp chủ thé vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình gây nguy hiểm hoặc đe dọa gây nguy hiểm cho xã hội, thay trước hậu quả nguy hiểm do hành vi của minh gây ra tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Lỗi vô ý vì quá tự tin trong trường hợp chủ thê vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng hi vọng, tin tưởng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.