Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY 1.Một số vấn đề lý luận về tội mua bán trái phép chất ma túy 1. Khái niệm, phân loạima túy 1. Khái niệm ma túy Theo Tổ chức Liên Hợp Quốc: Ma túy là “Các chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp, khi xâm nhập vào cơ thể sẽ làm thay đổi trạng thái tâm sinh lý của người sử dụng”. Cũng theo tổ chức y tế thế giới: Ma túy theo nghĩa rộng nhất là “Mọi thực thể hoá học hoặc là những thực thể hỗn hợp khác với tất cả những cái được đòi hỏi, để duy trì một sức khoẻ bình thường, việc sử dụng những cái đó sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc của vật”.
Tác hại nghiêm trọng nhất của ma túy là tạo ra sự lệ thuộc cả về tâm lý và thể chất đối với người sử dụng. Như vậy, theo nghĩa chung nhất và thông thường nhất, ma túy được hiểu là một số chất tự nhiên hoặc chất tổng hợp (hóa học) khi đưa vào cơ thể người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chế hoặc kích thích mạnh hệ thần kinh, làm giảm đau hoặc có thể gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng. Ở Việt Nam cụm từ “chất ma túy” chính thức quy định lần đầu tiên tại Điều 203 BLHS 1985: “Tội tổ chức dùng chất ma túy”, Điều 185i: “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” trong luật sửa đổi bổ sung một số điều BLHS năm 1997. Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân 1989, Nghị định số 141/HĐBT năm 1991 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự xong chưa đưa ra được định nghĩa về chất ma túy.
Tiếp theo là BLHS 1999 đã quy định chất ma túy, tội phạm ma túy. Theo đó, chất ma túy bao gồm: Nhựa 10 thuốc phiện,nhựa cần sa, cao côca, lá hoa, quả cần sa, lá cây coca, quả thuốc phiện khô, thuốc phiện tươi, heroin, cocain, các chất ma túy khác ở thể lỏng, các chất ma túy khác ở thể rắn. Các chất ma túy khác là những chất ma túy không được nêu trong BLHS mà nằm trong các danh mục được quy định tại Nghị định 67/NĐ-CP ngày 1-10-2001 của Chính phủ. Luật Phòng, chống ma tuý số 73/2021/QH14 của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 30/3/2021, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022, cũng đưa khái niệm về chất ma túy như sau: Chấy ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành.
Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTCBTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định của Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS 1999 (gọi tắt là Thông tư 17), mục 1.1 phần I định nghĩa về chất ma túy: “1. Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành” [5]. Như vậy, khái niệm về ma túy có thể được hiểu như sau: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây kích thích mạnh hoặc ức chế thần kinh và làm thay đổi trạng thái ý thức cũng như sinh lý của người sử dụng. Nếu lạm dụng, con người sẽ bị lệ thuộc vào ma túy và dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng ma túy.
Ngoài ra, các chất ma túy được quy định trong các danh mục do Chính phủ Việt Nam ban hành tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 nay đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Phân loại ma túy 11 Phânloạitheonguồngốc,cáchthứctạorachất matúy, ma túy đượcchia thànhbanhóm: -Cácchấtma túycónguồngốc tựnhiên:làcácchấtma túycósẵn trong tựnhiênnhưcâythuốcphiện,câycôca,câycầnsa.Cácchấtmatúyloại nàyđãxuấthiệnvàtồntạitừ hàngngànnăm trướccôngnguyênvàchođến bâygiờ nóvẫncòntồntạinhư:nhựa thuốcphiện,tinhdầucầnsa,v. + Các chất ma túy có nguồn gốc bán tổng hợp: đây là các chất ma túy mà một phần nguyên liệu dùng để sản xuất ra chúng được lấy từ tự nhiên. Từ những nguyên liệu này, người ta cho phản ứng với các chất hóa học (tiền chất) để tổng hợp ra chất ma túy mới.
Những chất ma túy mới này được gọi là chất ma túy bán tổng hợp, có độc tính cao hơn, có tác dụng tâm lý mạnh mẽ hơn so với chất ma túy ban đầu. Ví dụ: người ta lấy morphine (là chất ma túy có nguồn gốc tự nhiên) cho tác dụng với anhydric axêtic (là hóa chất đã được điều chế trong phòng thí nghiệm) để có heroine là chất ma túy bán tổng hợp. + Các chất ma túy có nguồn gốc tổng hợp toàn phần: đây là các chất ma túy mà nguyên liệu dùng để điều chế và các sản phẩm tạo thành đều được tổng hợp trong phòng thí nghiệm. Ví dụ: người ta lấy ephedrine là tiền chất được điều chế trong phòng thí nghiệm, cho tác dụng với một số hóa chất khác, để tổng hợp ra amphetamine và methamphetamine, là một trong những chất ma túy có nguồn gốc tổng hợp.
Đểbiếtmộtchấtnàođócóphảilàma túy không thìchất đóphải đápứngđượccácđặcđiểm là: Đượcquyđịnhtrongdanh mục doChínhphủ banhành;làchấtđộcgâynghiện;cónguồngốctựnhiênhoặctổnghợp;khi đượcđưavàocơthểconngười,nócótác dụnglàmthayđổitrạngtháiýthức và sinhlýcủa người đó. Nếulạm dụngchấtma túy, con ngườisẽ bịlệ thuộc vàonó, khiđógâynguyhạichochínhngười sửdụngvà cả cộngđồng. 12 Tuynhiên,trongthựctiễn,khicầnxácđịnhmộtchấtcóphảilàmatúyhay khôngcầnphảitrưngcầugiámđịnhđểxácđịnhloại,hàmlượng,trọnglượng chấtmatúy,tiềnchấtvàcăncứvàoDanhmụccácchấtmatúyquyđịnhtại Nghị định73/NĐ-CPngày15/5/2018củaChínhphủ. Một số chất ma túy thường gặp ở Việt Nam hiện nay là: Thuốc phiện, Morphine, Hêrôin, Nhựa cần sa, Côcain,Amphetamine, Methamphetamine, Methadone, Methoqualone, LSD,MDMA (estasy), Thuốc lắc, Lá khát, Nấm ảo giác, Cỏ Mỹ.
Khái niệm tội mua bán trái phép chất ma túy 1.Khái niệm về tộiphạm Khái niệm tội phạm đã được ghi nhận theo quy định tại Điều 8 BLHS như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hìnhsự”[40]. Khoản 1 Điều 8 BLHS đã xác định khái niệm tội phạm một cách khoa học, thể hiện tập trung quan điểm của Nhà nước về tội phạm. Nó không chỉ là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong việc phân loại các tội phạm của Bộ luật hình sự mà còn là cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng những điều luật quy định về từng loại tội phạm cụthể. Khái niệm tội phạm luôn là vấn đề trung tâm của Luật hình sự, việc đưa 13 ra khái niệm này cho phép phân biệt được hành vi nào là tội phạm và hành vi nào không phải là tội phạm để có chế tài xử lý chính xác.
Các nhà làm luật quốc tế nhấn mạnh tính hình thức của tội phạm. Cụ thể họ cho rằng: Tội phạm là hành vi bị luật hình sự cấm, hoặc là: “Vi phạm pháp luật bị Luật hình sự trừng trị” (BLHS Pháp năm 1980), hoặc là: “Hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” (BLHS Thụy Sỹ năm 1937). Như vậy, yếu tố luật hình sự quy định, luật hình sự cấm, luật hình sự trừng trị là đặc điểm quan trọng của tội phạm. Tội phạm còn được xác định thông qua dấu hiệu về mặt nội dung, đó là: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội”.
Tuy nhiên để đánh giá như thế nào là nguy hiểm cho xã hội, là vấn đề cần phải được làm sáng tỏ nếu không dễ bị rơi vào chủ quan duy ý chí khi quy định tội phạm. Các tiêu chí để xác định tính nguy hiểm cho xã hội ở mức độ tội phạm gồm: Tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tính chất và mức độ lỗi (các hình thức lỗi, các dạng lỗi, động cơ, mục đích phạm tội), các yếu tố đặc trưng cho hành vi phạm tội như: Thời gian, không gian, địa điểm, hoàn cảnh, công cụ phạm tội, nhân thân người phạmtội. Tội phạm còn được thể hiện thông qua dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đây là đặc tính quan trọng không thể bỏ qua khi quy định khái niệm tội phạm.
Năng lực trách nhiệm hình sự thể hiện ở khả năng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức đầy đủ và hiểu được hành vi của mình. Điều đó cho thấy, cho dù gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nào đó nhưng nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm không nhận thức được hành vi, không điều khiển được hành vi thì hành vi đó không là hành vi tộiphạm. Năng lực trách nhiệm hình sự của cá nhân người phạm tội được hình thành đầy đủ khi người đó đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự. 14 Tính có lỗi: Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như khả năng gây ra hậu quả từ hành vi đó.
Người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là sự kết hợp của sự lựa chọn của họ trong khi có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xãhội. Năng lực trách nhiệm hình sự có mối liên hệ chặt chẽ trực tiếp với lỗi, có năng lực trách nhiệm hình sự là cơ sở cần và đủ để có lỗi trong việc thực hiện tội phạm. Vì căn cứ để tính có lỗi trong việc thực hiện tội phạm thì chủ thể của hành vi đó nhất thiết phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy, căn cứ vào Điều 8 BLHS có thể đưa ra khái niệm tội phạm một cách khái quát:Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách có lỗi, được quy định trong Bộ luật hình sự và phải bị trừng phạt.