Chương I: Những quy định về hợp đồng bảo hiểm trong Bộ luật dân sự Việt Nam. Chương này di vào nghiên cứu tìm hiểu những quy định của BLDS về hợp đồng bảo hiểm, vì vậy, chúng tôi dựa trên sự quy định của BLDS dể nghiên cứu bản chất, đặc điểm và các loại hợp đồng bảo hiểm, nghiên cứu , < anti À 2 pee tAn su các loại dor tượng trong hop dong bao hiểm, nphiên cứu về chu thể va các ae, GA ale the Gd điều kiện cần thiết khi họ tham gia hợp đồng bảo hiểm. Cũng trong chương này, chúng tôi xác định phạm vi các quyển và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng bảo hiểm cũng như phân tích, tìm hiểu một số vấn để liên quan đến hợp đồng bảo hiểm như: sự kiện bảo hiểm, phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, thời gian bảo hiểm, không gian bao hiểm. Vi thế, chúng tôi chia chương này thành 4 mục lớn: I.
Khái niệm chung về hợp đồng bao hiểm IL. Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bao hiểm IV. Thời gian và khong gian bảo hiểm Chương II.
Thực tiễn hoạt động bảo hiểm và giải quyết tranh chấp. Chương này chủ yếu là tìm hiểu các vấn dé thực tếcủa hoạt động bao at H »? y “x ade nw, ww , eo, ` r5 ne , hiểm cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp bao hiểm và dua một số ví Ẩ ,, LAI ` sự è N x not dụ thực tế về bồi thường trong bao hiểm, đồng thời thống kê các vụ tranh ^ ^ ” xì " `z 08 vi m ws ` Ẩ chap về bao hiểm đã được Toà an giải quyết trong một sO năm gan đây. Kết luận và kiến nghị: Phần này trình bày khái quát những kết luận của toàn bộ dé tài nghiên cứu và đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về bao hiểm dân sự. Hoàn thành bản luận văn này, Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy Dinh Trung Tung, PTS luật học, Vụ trưởng vụ Pháp luật Dân sự, kinh tế Bộ Tư pháp đã nhiệt tình hướng dan và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện dé tài, xin trân trong cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh, các chị ở Vụ pháp chế Tổng công ty Bao hiểm Việt Nam (Bao ViệU).
Tôi xin chân thành và tran trong cảm ơn các Thầy, cô giáo trường Đại học. Luật ; Ha nội đã lộ giúp đỡ tôi rất nhiều trong : quá trình học ĐC tậpLẬP tại tí nhà [rưởờngp Ha Nội, tháng 12 nằm 1998 Ỹ CHUONG I KHÁI NIỆÊM CHUNG VỀ BẢO HIEM L. Vai trò của bảo hiểm trong đòi sống xã hội. Quá trình vận động của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên cũng như trong xã hội luôn tiểm ân những rủi ro khách quan.
Các rủi rò này da trở thành một lực lượng không thể kiểm soát được, gây ra những thiệt hại không lường đổi với sinh mạng con người cũng như đổi với của cai vật chất. Vi vậy, khi các rủi ro này xảy ra thường để lại hậu qua lâu đài, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của con người, cong đồng dan cư, thậm chí ảnh hưởng, tới sự hưng thịnh của ca một quốc gia. Các rủi ro xây ra trong đời sống có thể là do thiên nhiên mang lại như dong đất, lũ lụt, hoa hoạn, núi lửa v. Những, năm gan đây, số vụ tai nạn do thiên tai gây ra đã liên tiếp xây ra ở khắp các châu lục trên thế siới như: động đất ở Nhật Ban, ở Mê-IHi-Có, núi lửa ở Phi-lip-pin, hiện tượng Elnino đã gây ra nhiều trận lũ lụt, hạn han chưa từng có trong lịch sử.
xế các rủi rõ còn có thể do chính con người gây ra trong quá trình sốn ø và lao dong như tai nạn lao động, tại nạn giao thông v. Mặt khác, rủi ro còn có thê là những hiểm hoa phat sinh tự nhiên trong đời sống thể chất của con người như ôm dau, bệnh tật, hoặc do môi trường xã hội gây ra như mất trộm tài san, bị người khác xâm phạm đến sức khoẻ, tính mạng v. Các rut rò có thê xay ra do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng déu ^ a ^ la N `. C3 Be a ` ` ⁄ - gay ra một hậu qua là làm cho người gap rủi rõ lâm vào tỉnh trạng khó khan trong, đời sông sinh hoạt, thậm chí lam ngừng trệ ca một qua trình san xuất kinh doanh.
10 Khắc phục những thiệt hại do rủi ro dược tiến hành bang nhiều cách khác nhau trong thực tế. Để dam bao sự bình ổn của xã hội, Nhà nước đã quy định nhiều biện pháp trên cơ sở kết hợp nhiều chính sách khác nhau nhằm khắc phục kịp thoi hậu qua về vật chất doi với những tổn thất đã xảy ra. ray nf a ^ N nA ^ N ^ 2 2 ta h N [rong thực tế, tuỷ thuộc vào nguyên nhân và hậu qua của thiệt hạt mà việc khắc phục nó sẽ được 4p dụng các biện pháp khác nhau như: Buộc & 8 a eA .z ` A 2 “2 N người gây ra thiệt hat phải bối thường, trợ giúp bang ngân sách của Nha nước, kêu poi sự đóng góp từ thiện v. Các biện pháp nói trên rất thiết thực và có hiệu qua lớn trong thực tế.
Tuy nhiên, có rất nhiều thiệt hại xảy ra không thể ấp dụng các biện pháp này được hoặc nếu có ấp dung thì cũng chỉ cái thiện phần nào hoàn cảnh khó khan. Những biến cố xảy ra trong quá trình sống và lao động của con người như ốm đau, bệnh tật, tài sản bị mất mát hoặc bị huỷ hoại do tác động của thiên nhiên hay do các nguyên nhân khác thì bản thân người bị rủi ro phải tự mình khác phục bằng tài san để dành của minh. Trong khi đó, dự trữ của cá nhân thường rất hạn chế, it di so với hậu qua của rủi ro và vì vậy, ho thường lâm vào tỉnh trang kiệt qué về kính tế, khong còn kha nang khắc phục. Trong những trường hợp này, nếu có số đông người tham pia bảo hiểm thì sẽ dé dang tạo ra một lượng vốn dự trữ đủ để trang trải cho mot hoặc một số cá nhân, tổ chức khi họ bị rủi ro.
Với hình thức này, mỗi cá nhân, tổ chức chi cần đóng góp một khoản tiền nhất định từ thu nhập hoặc từ lợi nhuận thu được cho cơ quan bao hiểm mà khoản đóng góp này không làm ảnh hưởng lớn đến đời sống hoặc san xuất kinh đoanh của cá nhân, tổ chức. _ P ø < r » ) <i gnc nw ~ ae Nhận thức được vai tro to lớn cua bao hiểm trong đời sông xã hội, ~ Z ` ‘ a’,. 2 Z 4~ 3 = ' a cũng như trong quá trình san xuất kinh doanh, Các Mác đã chỉ ra rằng: "Để 1] dam bao quá trinh tái san xuất mở rộng, trong tổng san phâm xã hội, bên cạnh phần dùng để bù dap tư liệu sẵn xuất đã tiêu hao và phần thang dư để li. ve ⁄ ^ a ` ~ ` re) Ạ w 4 mo rộng san xuất, can phải có một phan làm quỹ dự phòng để dé phòng tat nạn, thiên tar [2].
Như vậy, thông qua hoạt động bảo hiểm, người ta lập ra một loại quỹ tập trung do đông dao người đóng góp theo những chế độ thống nhất va bình đẳng trên nguyên tắc lấy của số đông bù cho số ít bị thiệt hại. Vì vậy, những tốn thất xây ra đối với những sự kiện đã được bao hiểm sẽ được chia đều cho nhiều người cùng gánh vac nên việc khắc phục hậu qua của nó sẽ thuận lợi hơn nhiều nếu so với việc tốn thất đó chỉ do chính ban thân người bị thiệt hại khắc phục bằng tài sản của họ. Su ra đời và tổn tại của các phương thức bảo hiểm đóng một vai trò quan trong và bao quát đối với mọi mặt trong đời sống xã hội. với ban chất kinh tế của nó, đã tạo ra một nguồn vốn dự trữ và được coi là nguồn bảo dam tài chính chắc chắn cho các cá nhân, các tổ chức kinh tế để khắc phục các hiểm hoa rủi ro nhằm bao toàn và phát triển nguồn vốn của mình.
Ngoài ra, lượng tiền nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm sẽ là nguồn vốn dược dùng vào việc kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong thực tế, các cơ quan bảo hiểm là cơ quan thực hiện chức năng kinh doanh dịch vụ. Với phần thu, cơ quan này vừa dùng vào việc trả tiền bảo hiểm, vừa phát triển quỹ bằng cách đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế, cho vay hoặc gửi vào ngân hàng, kho bạc để thu lãi. Hoạt động này của cơ quan kinh doanh bảo hiểm đã dược Nhà nước ta quy định tại Điều 12 của Nghị dịnh 100-CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ như sau: " vA se *.
` <4 , at ose x oA? rl 1. Doanh nghiệp bao hiểm va tổ chức môi vidi bao hiểm được phé 2 a’ N Lên ˆ? ^ Z k =) Z ˆ sử dụng vốn nhàn roi để dau tư theo các quy định cua phap luật. Riêng các khoản dự phòng nghiệp vụ quy định tại Điều 10 Nghị định nay chi được đầu tư tại Việt Nam và cho các lĩnh vực sau: 2. Mua công trái, tín phiếu kho bạc nhà nước.
Kinh doanh bất động sản. Mưa chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu. Góp vốn liên doanh. Cho vay theo Pháp lệnh ngân hang, hợp tác xã tin dung và công ty tài chính ngày 23-5-1990.
Gửi tại ngân hàng, các tổ chức tín dụng hoặc kho bạc nhà nước để thu lãi. Bộ Tài chính quy định tỉ lệ vốn được phép đầu tư vào mỗi lĩnh vực trên nhằm dam bao cho doanh nghiệp bảo hiểm luôn duy trì được kha nang thanh toán”, Bảo hiểm, với bản chất xã hội của mình đã đóng vai trò là nguồn động viên, tạo nên sự bình ổn về mặt tỉnh thần đối với những người bị rủi ro, hoạn nạn trên phạm vi toàn xã hội: Mỗi một người, mỗi một tổ chức đều có quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời với hoàn cảnh và xã hội. Bảo hiểm tăng cường tính cộng đồng và làm cho mỗi một người có thể kết hợp khả nang của chính mình với kha năng sức mạnh của cộng đồng trong việc khắc phục những rủi ro. Nhờ có sự san sé rủi ro giữa các cá nhân và đơn vị tham gia bảo hiểm nên nhiều thiệt hại về người và của đã được trợ giúp trang trải, bù dap làm cho đời sống xã hội bớt bị xáo trộn.