CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề lý luận về bảo hiểm nhân thọ 1.1 Khái niệm Con người là nhân tố quan trọng quyết định đến sự phát triển của xã hội, chính vì vậy tính mạng, sức khỏe, sự an toàn của con người được đặt lên trên hết, là mối quan tâm hàng đầu của mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội. BHNT ra đời mục đích chính là khắc phục những hậu quả rủi ro xảy đến với con người, đồng thời giúp con người duy trì, ổn định cuộc sống. Hiện nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về BHNT, đứng trên những góc độ, khía cạnh khác nhau mà các nhà nghiên cứu đưa ra những quan điểm khác nhau về bảo hiểm nhân thọ. Trong giáo trình Bảo hiểm của trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã định nghĩa “BHNT là sự cam kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, mà trong doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra ( người được bảo hiểm bị chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người tham gia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn.
Nói cách khác, BHNT là quá trình bảo hiểm rủi ro có liên quan đến tính mạng, cuộc sống, tuổi thọ và sự an toàn của con người” (Định, 2012, pp. 476-477) Xét về góc độ pháp lý: BHNT là một loại hình bảo hiểm, trong đó DNBH nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm thông qua một hợp đồng và cam kết chi trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền BH hoặc những khoản trợ cấp nhất định trong trường hợp người được bảo hiểm tử vong hoặc sống đến một thời điểm đã được thỏa thuận rõ trong hợp đồng. Trong văn bản hợp nhất số 06/2019 luật KDBH, các nhà làm luật không đưa ra một định nghĩa cụ thể, mà nêu khái niệm BHNT thông qua phương thức liệt kê “ BHNT là loại nghiệp vụ bảo hiểm 6 cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” ( Khoản 12. Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm, 2019) Xét về góc độ nghiệp vụ: BHNT là quỹ dự trữ tài chính do người tham gia bảo hiểm góp vào và do một doanh nghiệp bảo hiểm đứng ra quản lý và đầu tư.
Quỹ dự trữ tài chính này sẽ được chi trả khi người được bảo hiểm hoặc người thân của họ không may gặp rủi ro liên quan đến bản thân con người như: tai nạn, sống sót, tử vong,. hoặc sẽ được trả khi đáo hạn hợp đồng đối với người mua bảo hiểm. Nhìn chung, có rất nhiều cách thức định nghĩa về bảo hiểm nhân thọ, tuy nhiên tựu chung lại đều chứa đựng một bản chất không đổi của BHNT đó là sự cam kết giữa DNBH và người mua BH, trong đó DNBH sẽ trả cho người mua BH (hoặc người thụ hưởng) một số tiền nhất định khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra (người được bảo hiểm chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định), còn người mua bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn. BHNT là quá trình bảo hiểm rủi ro liên quan đến sức khỏe, tính mạng và tuổi thọ của con người.
Từ những định nghĩa trên có thể rút ra một số đặc trưng của BHNT: Thứ nhất, BHNT có đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ của người được bảo hiểm- được hiểu là quá trình sống của người đó trong một khoảng thời gian được thể hiện bởi một trong hai (hoặc cả hai) sự kiện quan trọng: Sự kết thúc cuộc sống (thể hiện bằng cái chết) trong thời hạn nhất định hoặc là sự tiếp tục của cuộc sống ấy trong sau một thời điểm nhất định. Chính vì BHNT là bảo hiểm cho tuổi thọ của người được bảo hiểm, nên những rủi ro về mặt vật chất liên quan đến người được bảo hiểm có hai loại bao gồm rủi ro liên quan đến sự kiện chết và rủi ro liên quan đến sự kiện sống. Những rủi ro vật chất liên quan đến sự kiện chết của người được BH thường chia thành hai nội dung. Một là, rủi ro do không có đủ chi phí mai táng khi người được BH chết, chẳng hạn như đối với những người cao tuổi sống một mình, không có thu nhập tích lũy thì việc tham gia bảo hiểm chi phí mai táng sẽ giúp họ yên tâm hơn khi biết rằng mình qua đời sẽ được lo hậu sự.
Hai là, sẽ có những rủi ro mất mát 7 , làm suy giảm thu nhập đối với gia đình từ sự kiện người được BH chết, nhất là đối với những trường hợp mà người được BH có nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng. Đối với trường hợp người đó tiếp tục sống sau một thời hạn nhất định thì rủi ro quan trọng nhất là những bất ngờ không lường trước đối với cuộc sống của chính họ. Ví dụ như sức lao động giảm sút, hoặc do những rủi ro về công việc làm ảnh hưởng đến thu nhập, khi đó người được bảo hiểm sẽ phải đối mặt với những khó khăn nhằm cân bằng và duy trì cuộc sống thường nhật, chẳng hạn như các chi phí sinh hoạt hàng ngày và chữa bệnh. Khi đó, BHNT sẽ là một trong những công cụ đảm bảo vật chất cho cuộc sống của người được BH và gia đình của họ khi sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Thứ hai, BHNT là loại hình BH duy nhất cho phép bảo hiểm cho cả hai trường hợp trái ngược nhau là sống và chết. Đây cũng là một đặc điểm giúp phân biệt với bảo hiểm phi nhân thọ-loại hình bảo hiểm mà DNBH chỉ phải trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Thứ ba, BHNT là loại hình BH duy nhất có thể chi trả tiền cho người được bảo hiểm (hoặc người thụ hưởng) cho dù có rủi ro hay không có rủi ro xảy ra. Người mua BH sẽ phải định kì đóng một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm cho DNBH theo tháng, quý hoặc theo năm.
Ngược lại, DNBH sẽ có trách nhiệm chi trả một khoản tiền lớn, tức số tiền BH cho người được hưởng quyền lợi bảo hiểm theo thỏa thuận trước khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Chẳng hạn như người mua BH cho bản thân đến một độ tuổi nhất định nào đó, nhưng không may gặp tai nạn và chết sớm thì trong trường hợp này DNBH vẫn sẽ chi trả toàn bộ số tiền bảo hiểm cho gia đình của người mua BH mặc dù sự kiện bảo hiểm theo như thỏa thuận không xảy ra, đó là ví dụ về trường hợp có rủi ro BH. Về trường hợp không có rủi ro BH, ví dụ như người mua BH mua BH cho chính bản thân mình sống đến một khoảng thời gian nhất định, và khi kết thúc hợp đồng người này vẫn còn sống khi đó DNBH phải chi trả số tiền BH theo như đã thỏa thuận trong HĐ cho người mua BH. 8 Thứ tư, BHNT có tính tiết kiệm đối với bên mua BH.
Tính tiết kiệm thể hiện ở việc bên mua BH dùng một khoản tiền nhỏ hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm để đóng phí BH, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, người được BH sẽ nhận được một khoản tiền lớn từ DNBH. Đây là khoản tiền định kì phải nộp, người mua BH có trách nhiệm phải thanh toán khoản phí này cho DNBH, vì thế người mua BH không thể trốn tránh việc nộp phí hay không thể tùy tiện lấy lại khoản phí đã nộp. Nó giống như một khoản tiền dư thừa, người mua BH thay vì chi tiêu những thứ không cần thiết thì sẽ dùng số tiền đó để đóng phí bảo hiểm. Tiết kiệm trong BHNT là tiết kiệm một cách thường xuyên, có kỉ luật, kế hoạch.
Tiết kiệm từ những khoản phí nhỏ cho đến khi sự kiện BH xảy ra hoặc đáo hạn hợp đồng, người mua BH sẽ nhận được một khoản tiền lớn. Số tiền này một là có thể giúp người mua BH đầu tư vào một lĩnh vực nào đó kiếm thêm thu nhập, hai là có thể giúp gia đình người mua BH trang trải cuộc sống nếu trong trường hợp người mua BH chết hoặc suy giảm hay mất khả năng lao động. (Thủy, 2014) Thứ năm, BHNT chịu sự tác động của nhiều yếu tố, vì vậy quá trình định phí BH khá phực tạp. Các yếu tố cần xem xét khi xác định phí bảo hiểm bao gồm: độ tuổi, sức khỏe, giới tính của người được BH, tỷ lệ tử vong, thời hạn tham gia, số tiền bảo hiểm, phương thức thanh toán,… 1.2 Phân loại bảo hiểm nhân thọ Hiện nay, trên thế giới cũng như Việt Nam, sản phẩm BHNT ngày càng đa dạng về loại hình nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của khách hàng.
Cùng với đó, các sản phẩm BHNT cũng không ngừng phát triển thông qua việc kết hợp với các sản phẩm tài chính khác, ví dụ như bảo hiểm hợp tác với ngân hàng- bancassurance, bảo hiểm kết hợp đầu tư-unit linked,.Theo Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi, bổ sung 2019, BHNT bao gồm 5 loại hình chủ yếu: bảo hiểm sinh kì, bảo hiểm tử kì, bảo hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trọn đời và bảo hiểm trả tiền định kì. 9 Bảo hiểm sinh kì: “là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm, 2019) BH sinh kì có một số đặc điểm sau: Số tiền BH sẽ được trả vào ngày đáo hạn hợp đồng nếu người được BH vẫn còn sống, trong trường hợp người được BH chết trước ngày hết hạn hợp đồng thì DNBH sẽ không phải chi trả bất kì một khoản tiền nào. Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngoại lệ, DNBH sẽ hoàn lại phí BH cho người được BH sau khi đã trừ đi các loại chi phí như chi phí ký hợp đồng và chi phí quản lí hợp đồng.
Thời hạn của BH sinh kì được xác định rõ. Là loại hình BH mang tính tiết kiệm thuần túy. Phí BH có thể trả trong một lần hoặc nộp định kì theo tháng, quý, năm. Có thể được chia lãi hoặc không chia lãi.
Có thể được thanh toán giá trị hoàn lại khi không còn đủ điều kiện để tiếp tục tham gia. Sản phẩm BH sinh kì thuần túy hiện nay hầu như các DNBH đều không triển khai.