CHƯƠNG 1: NHUNG VAN DE LICH SU VA LÝ LUẬN VE NHAN THUC VÀ XÂY DUNG PHÁP LUAT THỜI KY THUỘC PHÁP Ở VIỆT NAM 1. Bối cảnh xã hội Việt Nam thời kỳ thuộc Pháp ảnh hưởng đến nhận thức và xây dựng pháp luật 1. Cuộc xâm chiếm thuộc địa An Nam của Pháp Duyên nợ của Việt Nam và Pháp bắt đầu từ trước năm 1624, khi những giáo sĩ thuộc Đoàn Giao sĩ Jesus (Compagnie đe Jésus) hoặc thuộc Hội Thừa sai (Hội Truyền giáo ngoại quốc — Société des Missions étrangères) đặt chân đến Dang Trong. Một người nỗi tiếng hơn cả trong số hàng tốp giáo sĩ đã đến Việt Nam vào dau thế kỷ XVII là Alexandre de Rhodes.
Sau khi trở về Pháp năm 1649 — sau 25 năm sống ở Việt Nam, vị này đã xuất ban tam bản đồ An Nam đầu tiên (1950), một cuốn Tir điển Việt — La-tinh — Bồ (1951) và cuốn Lịch sử Dang Ngoài bằng tiéng La-tinh (1652) [58, tr. 28] — đánh dau những nghiên cứu đầu tiên của người Pháp về xứ sở phương Đông này. Về sau, từ năm 1663, các giáo sĩ, vô tình hoặc có chủ ý, mang theo trên hành trình của mình đến Việt Nam các mưu đồ chính trị của Vua Louis XIV. Dưới lớp vỏ là tình yêu Đức Chúa, các giáo sĩ thậm chí đã mở đường cho một công ty có tên Đông Ấn tiến vào và lập chi nhánh thương mại ở Dang Trong va Dang Ngoài, từ đây cho phép người Pháp thăm dò và cắm rễ ở Việt Nam theo con đường thương mại.
Trong mắt người Pháp lúc bấy giờ, Đàng Trong Việt Nam là một nơi hứa hẹn với không khí trong lành, khí hậu chia bốn mùa, có lượng mưa lớn giúp không khí tươi mát, đất đai phì nhiêu, màu mỡ - đây là điều kiện thuận lợi cho nên nông nghiệp, cung cap cho Việt Nam nguồn lúa gạo doi dào. O xứ nay cũng có nhiều loại cây trồng đặc sắc, đặc biệt là có những loài cây ăn quả không phổ biến ở Pháp như cau, mit, sầu riêng. Khí hậu va địa hình cũng phù hợp để nuôi nhiều loài vật nuôi, chưa kế đến tài nguyên thủy, hải sản phong phú. Bên cạnh đó, địa hình rừng núi tạo ra trữ lượng và độ đa dạng của gỗ tại Đàng Trong.
Trong đó có những loại gỗ vô cùng có giá trị như trầm hương. Các loài động vật to lớn và khỏe mạnh như voi và tê giác cũng được người Pháp quan tâm do sự hữu dụng trong quân sự, xây dựng, thậm chí là thú chơi, chữa bệnh. Chưa hết, tại đây có những mỏ tài nguyên như vàng, bạc. có thé được khai thác, mang về nguồn lợi kinh tế lớn.
Mặt khác, Dang Trong giáp biển và có vị trí cửa ngõ. Nhiều hai cảng có thé được dựng lên, thuận lợi cho giao lưu buôn bán với ngoại quốc. Con người Việt Nam đoàn kết, chan hòa, hiếu khách và đặc biệt không bài xích người Pháp như dân chúng ở Trung Quốc hay Nhật Bản. Giáo sĩ Cristoforo Borri từng nói về Đàng Trong trong nghiên cứu của mình rằng đây là “nơi Thiên Chúa chỉ cần phái một số thiên sứ tới để biến nó thành một phần của Trời” [27, tr.
Năm 1775, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ nổi dậy nhằm lật đồ nhà Nguyễn. Trong lúc chạy trốn khỏi sự truy đuôi của quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã xác lập một mối quan hệ mật thiết với giáo sĩ Pháp. Theo lời kế của giao sĩ P. de la Bissachère, Giám mục Adran (Pigneau de Béhaine — Đá Ba Lộc) đã cứu Nguyễn Ánh thoát chết và đạt thành thỏa thuận liên minh.
Khi Nguyễn Ánh tị nạn ở Xiêm, Pigneau de Béhaine đã hướng về Pháp cầu viện lính và thiết bị chiến tranh. Ý tứ hạ mình và chấp nhận chịu ảnh hưởng của Pháp được Nguyễn Ánh thê hiện rõ trong một sắc truy dụ gửi theo Pigneau de Béhaine: “sự cứu giúp của một nước phương Tây là cần thiết đề tái thiết những công việc của nhà Vua, Hoàng dé đặt những lợi ích của mình vào tay nhà Vua của nước Pháp, hơn tất cả các quốc gia Pháp” - cũng như việc ông gửi hoàng tử Cảnh đi theo vị Giám mục này trên chuyên cầu viện. Kết quả của chuyến cầu tình này là Hiệp ước Versailles vào ngày 23 tháng 11 năm 1787 giữa Vua Pháp và Vua Nam Kỳ - ở đây chỉ Nguyễn Ánh. Theo đó, Pháp “sẽ giúp đỡ băng cách hữu hiệu nhất những có gắng mà Quốc vương Nam Kỳ quyết tâm thực hiện nhằm chiếm lại và hưởng thụ những đất đai lãnh thổ của mình” (điều 1).
Ở chiều ngược lại, Nguyễn Ánh phải đồng ý trao cho người Pháp “quyền sở hữu tuyệt đối cũng như chủ quyền toàn ven của hòn đảo làm thành hải cảng chính của Nam Kỳ là Hội An” (điều 3) và “quyền sở hữu và chủ quyền về Côn Đảo” (điều 5). Sau khi lên ngôi, Gia Long thực hiện hòa ước và vẫn giữ mối hòa hảo với Pháp, tuy nhiên cũng cô tình và cô gắng lang tránh sự can thiệp của Pháp vào chính trị đất nước. Dưới thời đại này, Cơ đốc giáo được coi trọng, giao sĩ được tự do đi lại khắp noi. Đến thời Minh Mạng, do chịu sự giáo dục của Nho giáo, bài xích người ngoại quốc, ông đóng cửa thương mại, tây chay Cơ đốc giáo.
Thậm chí Minh Mạng đã mở ra các cuộc thanh trừng giáo sĩ — điều cũng được Thiệu Trị và Tự Đức kế thừa. Trong suốt thời kỳ sau Gia Long, những cuộc phản kháng của giáo sĩ nổi lên nhưng bị dập tắt. Năm 1847, Pháp cử tàu chiến đến cửa biển Da Nang với mục đích yêu cầu Vua An Nam ra chỉ dụ dừng đàn áp Cơ đốc giáo nhưng không thành công nên phải rời đi. Đến năm 1857, một quan Pháp theo thuyền buôn vào Việt Nam hong thương lượng về van dé này nhưng cũng không thành công.
Về sau, Pháp và Tây Ban Nha bắt tay nhau (Pháp ở kèo trên) hòng “nam lấy trách nhiệm giải quyết van đề Kito giáo ở Việt Nam” [63, tr. 10 Dựa vào tuyên bố trên, ngày 31 tháng 08 năm 1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha tấn công vào cửa biên Mỹ Khê - Đà Nẵng, chính thức bắt đầu thực hiện dã tâm biến Việt Nam thành Ấn Độ thứ hai với tự tin “chúng ta có quyền đánh chiếm nó, mà đánh chiếm nó là chuyện hết sức rõ ràng” [63, tr. Ngày 05 tháng 06 năm 1862, Hiệp ước Nhâm Tuất (Hiệp ước Sài Gòn) được ký kết giữa đại diện triều đình nhà Nguyễn (Thượng thư bộ Lễ Phan Thanh Giản của Vua Tự Đức), đại diện Pháp quốc (Chuan đô đốc Louis- Adolphe Bonard) và đại diện phía Tây Ban Nha (Đại tá tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Don Carlos Panlanca). Đề đổi lay “một nền hòa bình bắt tuyệt giữa Hoàng dé Pháp và Nữ hoàng Tây Ban Nha một bên và Quốc vương An Nam một bên” (điều 1), Tự Đức phải cham dứt tây chay Cơ đốc giáo và truy quét AL??? giáo sĩ (điều 2), cũng như “chấp nhận nhượng hắn toàn vẹn chủ quyền” ba tỉnh Biên Hòa, Gia Dinh, Định Tường và đảo Côn Lon cho Pháp (điều 3), cùng việc chi trả một phan chiến phí không nhỏ.
Không mất quá lâu dé Tự Đức nhận ra sự bat thường về lợi ích quá lớn mà người Pháp muốn đạt được và cử một sứ đoàn sang Pháp đàm phán lại về chuyện nhượng đất và chiến phí. Kết quả, Hiệp ước Aubaret được ký năm 1864 nhăm cân bằng lại lợi ích hai bên. Tuy vậy, có thể thấy, Hiệp ước này không thường được nhắc đến hoặc bị quên lãng do đã bị bác bỏ ngay khi vừa duoc áp dung không lâu — trừ một ý tưởng về việc Pháp sẽ bảo hộ lục tỉnh Nam Kỳ. Đây là hành động lật lọng quen thuộc của Pháp, cho thấy rõ bản chất thực dân - chỉ làm những điều vì lợi ích của họ.
Về lục tỉnh Nam Kỳ, một thanh tra Pháp phụ trách cai trị thành phố Chợ Lớn - G. Francis, viết: “Việc sở hữu ba tinh của chúng ta vẫn chưa day đủ và trở thành nguy hiểm nếu chúng ta không bổ sung thêm một thời gian ngắn, bằng cách đánh chiếm phần đất Nam Kỳ còn lại.] Càng sớm tranh thủ dé tạo cho nó [ý chỉ lục tỉnh Nam Ky] một dia bàn ồn định, chúng ta có 11 thể tránh được những bước dò dẫm dé tìm một đường lối chính trị mịt mù và không dứt khoát, của một chánh phủ những người quá dễ đổi thay và không ôn định” [63, tr. Đô đốc La Grandière tiến hành một chiến dịch công kích vào năm 1867 hong xóa bỏ hai Hiệp ước năm 1862 va 1864, đi đến việc người Pháp thong nhất chủ quyền sáu tỉnh Nam Kỳ. Cũng trong giai đoạn này, những cuộc thám hiểm ra phía Bắc đã mang đến cho họ nhiều tư liệu về địa lý, tài nguyên, con người cho thay lợi ích mà việc chiếm được vùng thung lũng sông Hồng có thé đem lại — nhất là trên con đường giao thiệp với Trung Quốc.
Và thé là Bắc Kỳ bỗng trở thành một cái tên trong danh sách mà người Pháp muốn chiếm hữu. Người Pháp thực hiện dã tâm của mình bằng hàng loạt những cuộc tan công và chèn ép ra Bắc Kỳ với danh nghĩa dẹp loạn hoặc giúp triều đình chống lại Trung Quốc. Đến năm 1874, Hiệp ước Giáp Tuất được ký vào ngày 15 tháng 03 với nội dung đáng chú ý nhất là triều đình nhà Nguyễn thừa nhận chủ quyền của Pháp với Nam Kỳ lục tỉnh, và cam kết mở cảng Thị Nại (Quy Nhơn), cảng Ninh Hải (Hải Phòng) và mở cửa Hà Nội qua đường sông Hồng dé phục vụ giao thương thương mại với người Pháp - đổi lại, phía Pháp sẽ xóa khoản nợ chiến phí cho Việt Nam và thực hiện bảo hộ Việt Nam trong các mối quan hệ quốc tế (bao gom cả nan hai tặc đang hoành hành). Hiệp ước này nhấn mạnh việc vua An Nam sẽ phải uốn nắn đường lối chính trị của mình theo đường lối của Pháp; cũng như cài cắm nội dung về chế độ bảo hộ - khi chủ quyền ngoại giao của Việt Nam vào tay Pháp.
Nhưng tất nhiên Pháp không dừng lại ở Hiệp ước 1874. Chưa vừa lòng với quyền lực của mình đối với miền Bắc Việt Nam, người Pháp chuẩn bị một cuộc can thiệp vũ trang vào Bắc Kỳ với cái cớ trừng phạt tàn dư hải tặc Trung Quốc đã sát hại con dân Pháp quốc tại đó. Ngày 03 tháng 04 năm 1882, Đại tá Pháp Henry Rivière đến Hà Nội với hai đại đội tháp tùng — số lượng binh sĩ 12 vượt quá thỏa thuận trong Hiệp ước 1874. Quan An Nam tran thủ Hà Nội lúc bay giờ hoàn toàn có cơ sở dé chuẩn bị các phương án phản công nếu có biến cô.