CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VÀ NOI DUNG NANG LUC HANH VI DAN SỰ CUA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. KHÁI QUAT CHUNG VE NĂNG LUC CHỦ THẺ CUA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. KHÁI NIỆM NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN Trong bat cứ quan hệ pháp luật nào, chủ thê là yếu tố quan trong hàng dau bởi không có chủ thé thì không thé hình thành quan hệ pháp luật. Việc xác định chủ thể của một ngành luật cũng như các điều kiện liên quan đến năng lực chủ thé của ngành luật đó là do đặc thù của quan hệ xã hội thuộc đối tượng diéu chỉnh của một ngành luật.
Quan hệ pháp luật dân sự rat phong phú và đa dạng xuất phát từ sự phong phú, đa dạng của những quan hệ dân sự phái sinh trong đời sống của xã hội. Chính sự đa dạng, phong phú của quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự mà pháp luật dân sự qui định chủ thé của quan hệ pháp luật dân sự đa dạng với những đặc điểm riêng của từng loại chủ thé. Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm: Cá nhân (công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không có quốc tịch); pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và trong nhiều trường hợp Nhà nước CHXHCN Việt Nam là chủ thé đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự. Dưới góc độ khoa học pháp lý, cá nhân, tổ chức đáp ứng được những điều kiện do pháp luật quy định trong từng loại quan hệ nhất định là chủ thể của quan hệ pháp luật.
Do đó, dé trở thành chủ thé quan hệ pháp luật thì cá nhân, tổ chức. phải có năng lực chủ thể đầy đủ. Năng lực chủ thể được coi là điều kiện cần và đủ để xem xét tư cách chủ thể, bởi vì chỉ có đủ các điều kiện do pháp luật quy định thì chủ thể mới có kha năng hưởng quyền, thực hiện nghĩa vụ pháp lý do Nhà nước qui định. Chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung, chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự nói riêng là những cá nhân, tổ chức có đủ năng lực chủ thé do Nhà nước qui định để tham gia quan hệ pháp luật, có quyền, nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật.
Cá nhân cũng như bat cứ chủ thé nào khác của quan hệ pháp luật dân sự, dé trở thành chủ thé thì phải đáp ứng điều kiện về năng lực chủ thé - đó là năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Điều kiện về độ tuổi là một trong những điều kiện để xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân. Căn cứ vào độ tuổi của cá nhân, khoa học luật dân sự chia cá nhân thành người thành, niên và người chưa thành niên. Theo qui định của BLDS thì: “Người từ đủ mười tám iudi trở lên là người thành niên.
Người chưa đủ mười tắm tuổi là người chưa thành niên". Như vậy, tiêu chí duy nhất dé phân biệt người thành niên và người chưa thành niên căn cứ vào độ tuổi. Theo Từ điển tiếng Việt thì “thành niên” được hiểu là: đến tuôi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ [26,tr. Người chưa thành niên là một thuật ngữ pháp lý thường được các nhà lập pháp và quản lý xã hội sử dụng khi xác định những giới hạn về nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của cá nhân trong những mối quan hệ pháp luật.
Thông qua việc xác định giới hạn đối tượng người chưa thành niên để có những phương thức đặc thù và hợp lý để quản lý nhóm đối tượng này, phân biệt nó với những nhóm đối tượng khác. Như vậy, với cách xác định đó thì người chưa thành niên có thê bao. hàm tất cả những nhóm nhân khẩu xã hội có độ tuổi dưới mười tám tuổi, ở nhóm độ tuổi này, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà pháp luật qui định năng lực trách nhiệm dân sự mà người chưa thành niên phải chịu khi tham gia một số quan hệ dan sự khác nhau. Tuy nhiên, việc phân nhóm đối tượng dưới mười tám tuổi chỉ có ý nghĩa tương đối bởi vì trên thực tế chúng ta không thé tim được một sự đồng nhất hoàn toàn giữa các lớp lứa tuổi khác nhau trong nhóm chưa thành niên.
Do đó, những người đưới mười tám tuôi lại còn có thé được phân chia thành nhiều nhóm tuổi khác nhau xuất phát từ những đặc điểm khác nhau về sự phát triển thể chất, nhận thức cũng như tâm sinh lý riêng của mỗi nhóm. Chăng hạn, các nhà giáo dục thường nói đến những nhóm như: Trẻ sơ sinh, nhóm nhà trẻ, mẫu giáo, nhóm nhỉ dong, nhóm thiêu niên. Trong thực tế, còn tổn tai những nhận thức và cách hiểu khác nhau giữa khái niệm người chưa thành niên và vị thành niên, mặc dù chữ “vi” và chữ “chưa” về thực chất chỉ bao ham ¡à một nghĩa. Vì vậy, chưa thành niên la giới hạn nhóm người ở lứa tuôi dưới tuổi thành niên, trong trường hợp này cả trẻ sơ sinh, mẫu giáo, nhi đồng, thiếu niên đều là người chưa thành niên.
Mặc dù-vậy, cũng có quan diém cho rang, về mặt ngôn từ, khi người ta nói. rằng chưa đạt đến một cái gì đó thì điều đó thường có nghĩa là đã gần đạt đến mức độ đó rồi. Vì vậy, quan điểm nay cho rang người chưa thành niên có nghĩa là người đó cũng đã gần đến tuổi thành niên. Với quan điểm này thì người chưa thành niên không thé là trẻ sơ sinh, mẫu giáo, nhi déng.
Từ đó, phân chia nhóm người chưa thành niên thành nhóm trẻ em và nhóm vị thành niên và theo cách hiểu này thì nhóm vị thành niên chỉ là một bộ phận của người chưa thành niên hay nói một cách chính xác hơn nhóm vị thành niên được hiểu theo quan điểm - này là thế hệ lớn tudi hơn cả trong nhóm người chưa thành niên. Chúng tôi cho răng quan điểm trên chỉ nhăm giới hạn phạm vi đối tượng nghiêm cứu một bộ phận người chưa thành niên mà thôi. Theo Từ điển Luật học của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội năm 1999, thuật ngữ vị thành niên và chưa thành niên được hiểu như sau: “Vi thành niên (chưa thành niên) là người chưa đến độ tuổi được pháp luật coi là đủ khả năng dé sử dụng quyên, làm nghĩa vụ và chịu trách nhiệm. Người chưa đủ mười tám tuổi là vị thành niên ” (tr.
Trong Từ dién tiếng Việt giải thích “vị thành niên” chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với day đủ các quyển, nghĩa vụ (tr. Đồng thời, theo quy định tại Điều 18 BLDS thì “. Người chưa đủ mười tam tudi là người chưa thành niên”. Như vậy, Trong khoa học pháp ly nói chung và khoa học Luật Dân sự nói riêng thì khái niệm vé người chưa thành niên được hiểu bao gồm tất cả những người chưa đủ mười tám tuôi.
NĂNG LUC CHU THẺ CUA NGƯỜI CHUA THÀNH NIÊN cá nhân nói riêng, chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung phải có tư cách chủ thé. Tư cách chủ thé của cá”nhân được xác định bởi hai yếu tố là năng lực pháp luật dan sự và nang lực hành vi dân sự. Nếu như năng lực pháp luật của cá nhân là bình dang - mọi cá nhân khác nhau đều có năng lực hành vi dân sự như nhau — thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân luôn luôn bất bình đăng. Các cá nhân khác nhau có năng lực hành vi dân sự khác nhau: người có kha năng nhận thức làm chủ được hành vi sẽ khác với 10.
người không nhận thức làm chủ được hành vi; người chưa thành niên sẽ khác với người thành niên. Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì năng lực chủ thê như là một điều kiện cơ bản đòi hỏi chủ thể phải đáp ứng dé có thé thoả mãn những yêu cầu đặt ra của từng loại quan hệ pháp luật cụ thể. Cá nhân bao gồm cả người thành niên và người chưa thành niên. Năng lực chủ thể của người chưa thành niên với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm hai yêu tố cơ bản là năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.L Năng lực pháp luật của người chưa thành niên Khoa học pháp lý không phân chia năng lực pháp luật dân sự của người chưa thành niên hay người thành niên mà chỉ có khái niệm chung về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân.
Thông thường, năng lực pháp luật của cá nhân có từ khi cá nhân được sinh ra và chấm dứt khi cá nhân chết hoặc bị Toà án ra quyết định tuyên bố là đã chết” [6]. Năng lực pháp luật không phải là một thuộc tính vốn có của chủ thé, không phải là thuộc tính tự nhiên, bâm sinh và cũng không phải là một hiện tượng “bat biến”. Ở thời kỳ cổ đại, mặc dù chưa xuất hiện khái niệm năng lực pháp luật nhưng các luật gia của Nhà nước La Mã cô đại đã tiếp cận nội dung này bằng việc xem xét đặc *điểm nhân thân của con người để phân biệt với đồ vật. ' Điều 635 BLDS qui định người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời diém mờ thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng thành thai trước thời điểm người có tài sản chết.
Như vậy, đây là trường hợp cá nhân có năng lực pháp luật ngay cả khi chưa được sinh ra — thai nhi được bảo lưu quyền thừa kế. 1] Vào thé ky thứ VI, các nhà luật gia La mã dưới thời hoàng dé Justinian va vào thé ky thứ XVIII, Christian đưa ra khái niệm năng lực pháp luật và được hiểu là một dấu hiệu của cá nhân. Dưới thời khai sáng, theo I.Kant và trường phái pháp luật tự nhiên đã cho rằng năng lực pháp luật là dấu hiệu chung của mọi người. Con người là một thực thê của tự nhiên và là chủ thể của các quan hệ xã hội và gan liền với con người luôn luôn là năng lực pháp luật.
Vì vậy, năng lực pháp luật là yếu tố luôn gắn liền với chủ thể, không chuyển dịch cho chủ thể khác. Trong lịch sử pháp lý ở nước ta cũng đã sử dụng khái niệm này khi xác định nội dung nghĩa vụ dân sự của cá nhân. Chăng han “Nghĩa vụ dán sự là mỗi liên lạc về luật thực tại hay luật thiên nhiên, bó buộc một người hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối với một hay nhiễu người nào đó.