CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH BIỂN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về du lịch biển 1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch biển 1. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa [33, tr 170].
Như vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý Nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản dưới luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được Nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Khái niệm về du lịch biển Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người.
Ngày nay du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa xã hội của nhân dân các nước. Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận 8 bằng nhiều góc độ khác nhau: Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization)- một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư; nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền”. Du lịch cũng là một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư. Du lịch được xem như là một chuyến đi của con người, với nhiều mục đích cụ thể riêng biệt đến một nơi khác mà không phải để định cư và có sự trở về sau chuyến đi.
Thuật ngữ này được đưa vào hệ ngữ La tinh thành Turnur và sau đó thành Tour trong tiếng Pháp với nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi. Theo Robert Langquar (1980), từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên được sử dụng trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hoá, nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch là một từ gốc Hán - Việt, tạm hiểu là đi chơi, trải nghiệm. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến ở mọi quốc gia.
Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 đã nêu khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Biển là tài nguyên tự nhiên thuộc tài nguyên du lịch. Con người có thể 9 tận dụng những vốn quý của tự nhiên để cải thiện và nâng cao cuộc sống cho mình. Du khách đến biển sẽ được đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông qua sức mạnh sáng tạo nhân văn của con người để phục vụ con người.
Du lịch biển hình thành và phát triển dựa vào tiềm năng của biển và những yếu tố khác do chính con người làm nên. Theo luật Du lịch thì Du lịch biển là một loại hình dịch vụ du lịch sinh thái của ngành du lịch, là hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người nhằm tận hưởng khí hậu mát mẻ, dễ chịu của cảnh quan biển, ngoài ra còn đáp ứng được nhu cầu giải trí, thể thao, nghỉ dưỡng và tham quan du lịch nơi con người đến hưởng thụ ở biển. Du lịch biển là ngành dịch vụ tổng hợp, cùng với du lịch có chung mục đích là phục vụ nhu cầu của du khách, hoạt động kinh doanh với mục đích là thu lợi nhuận. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch biển Du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp và phổ biến.
Nó liên quan và tác động trực tiếp, gián tiếp đến những ngành, nghề khác nhau. Du lịch biển là một loại hình kinh doanh du lịch phổ biến ngày nay. Những sản phẩm du lịch mang lại hỗ trợ cho du lịch biển phát triển và ngược lại, những sản phẩm du lịch biển đóng góp to lớn cho sự phát triển toàn ngành du lịch. Vì vậy, việc tăng cường QLNN đối với du lịch là một đòi hỏi tất yếu khách quan.
Hoạt động quản lý nhà nước do các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành. Trên cơ sở đó, QLNN đối với du lịch biển không chỉ là sự quản lý chung của nhà nước về du lịch mà còn là sự quản lý mang nét đặc trưng riêng của loại hình dịch vụ này. Nói đến QLNN về du lịch là nói đến cơ chế quản lý. Trong cơ chế đó, phải đảm bảo hệ thống các công cụ quản lý phát huy được vai trò của mình trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội, đồng thời đảm bảo cho các hoạt động du lịch vừa hoạt động hiệu quả, vừa tuân thủ các quy định, yêu cầu của quy luật kinh tế.
Yêu cầu đặt ra đối với công tác QLNN là phải đảm bảo 10 môi trường thông thoáng, ổn định, định hướng hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động du lịch phát triển nhưng có trật tự nhằm giải quyết hài hòa các lợi ích. Thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động du lịch đảm bảo phát triển du lịch bền vững, phát triển một cách trật tự, ổn định, kỹ cương và uốn nắn những hiện tượng, hành vi vi phạm pháp luật. Từ đó có thể hiểu: Quản lý nhà nước về du lịch biển là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước đối với hoạt động của nhà kinh doanh du lịch biển, du khách và các chủ thể khác liên quan nhằm đảm bảo tài nguyên biển được bảo tồn, du lịch biển phát triển theo đúng định hướng, chiến lược, tạo nên sự phát triển bền vững và có hiệu quả trong toàn ngành du lịch và trong nền kinh tế - xã hội của đất nước 1. Đặc điểm của quản lý nhà nước về du lịch biển Thứ nhất, quản lý Nhà nước về du lịch biển là hoạt động mang tính tổ chức và điều chỉnh.
Tính tổ chức và điều chỉnh được thể hiện ở việc các cơ quản quản lý nhà nước về du lịch biển ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng các đối tượng quản lý là du lịch biển phát triển và theo một thể thống nhất. Việc phát triển du lịch biển phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật để buộc hoạt động của nhà kinh doanh du lịch biển, du khách và các chủ thể khác liên quan phải thực hiện theo quy luật xã hội khách quan nhằm đạt được sự cân bằng trong xã hội. Thứ hai, quản lý Nhà nước về du lịch biển phải mang tính khoa học, tính kế hoạch. Du lịch biển, đảo được xây dựng và phát triển trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch tự nhiên là ven biển, nước biển, cát biển,.
và các hòn đảo tự nhiên trên cơ sở khai thác và phát triển cùng với du lịch nhân văn. Hoạt động du lịch biển thường gắn với các hoạt động nghỉ mát, tắm biển, an dưỡng cũng 11 như các dịch vu giải trí, thể dục thể thao đi kèm.đòi hỏi Nhà nước phải tổ chức các hoạt động quản lý, phải có một chương trình nhất quán, cụ thể. Một bất lợi của du lịch biển đảo là cải tạo hạ tầng khó, và thường rất tốn kém so với các ngành du lịch khác. Ví dụ như cải tạo các bãi biển, bảo tồn và nuôi trồng các khu san hô.
đòi hỏi phải có kỹ thuật cao, và chi phí rất lớn. Bên cạnh đó Du lịch biển chịu sự tác động mạnh đến sự biến động của tự nhiên và khí hậu, nên việc quản lý nhà nước về du lịch biển đòi hỏi cơ quan quản lý phải có các chính sách cụ thể theo những kế hoạch được vạch ra từ trước trên cơ sở nghiên cứu một cách khoa học và có kế hoạch. Thứ ba, quản lý Nhà nước là những tác động mang tính liên tục, và ổn định. Du lịch biển là một ngành dễ bị chịu tác động của các yếu tố trong môi trường bao gồm kinh tế, chính trị, xã hội, luật pháp.
Du lịch biển chỉ có thể phát triển trong một môi trường có tính ổn định về mặt chính trị, quốc phòng. Sự đảm bảo vững chắc của an ninh và quốc phòng tạo môi trường ổn định cho đất nước và khách tham quan. Từ đây, có thể thấy, du lịch biển là một ngành chịu ảnh hưởng khá nhiều các yếu tố từ an ninh, quốc phòng đến các nhân tố xã hội. Cùng với sự vận động biến đổi của các yếu tố đó, hoạt động quản lý nhà nước về du lịch biển phải diễn ra thường xuyên, liên tục, không bị gián đoạn.
Các quyết định của Nhà nước phải có tính ổn định, không được thay đổi quá nhanh. Việc ổn định của các quyết định của Nhà nước giúp cho các cơ quan quản lý có điều kiện kiện toàn hoạt động của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định. Vai trò của quản lý nhà nước về du lịch biển Thứ nhất, hoạt động QLNN về du lịch biển nhằm góp phần phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương, đảm bảo việc phát triển du lịch biển 12 đi đúng hướng,; hạn chế những mặt tiêu cực trong việc phát triển du lịch biển mang lại như tình trạng ô nhiễm môi trường, phức tạp trong an ninh trật tự,.