PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh cũng như những đô thị lớn ở Việt Nam đang phải đối diện với trạng ùn tắc giao thông ngày càng trầm trọng. Số lượng xe máy, ô tô con ngày càng tăng trong khi đường xá không được mở rộng thêm. Về giao thông công cộng, một số tuyến buýt sử dụng xe buýt lớn chạy trên đường phố làm gia tăng thêm tình trạng ùn tắc giao thông trong khu vực nội thành ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nhìn chung, xe buýt chưa thật sự hấp dẫn người dân sử dụng, tỉ lệ sử dụng xe buýt còn thấp khoảng 5 – 7%.
Một đặc điểm khác là thành phố hiện nay chưa có các tuyến xe buýt chạy nội quận nhằm thu hút thêm khách. Do đó việc nghiên cứu xe buýt phù hợp chạy trong khu vực nội thành là cần thiết và mang tính thực tiễn cao, nhằm thu hút thêm hành khách sử dụng phương tiện giao thông công cộng. Dân số hiện nay của thành phố là hơn 7,3 triệu người cùng với khoảng 9 triệu dân sinh sống tại 7 huyện của các tỉnh lân cận tạo thành khu vực phát triển kinh tế năng động nhất nước. Dự báo dân số của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam là hơn 22 triệu dân vào năm 2025, trong đó riêng Thành phố Hồ Chí Minh là hơn 10 triệu dân.
Mặc dù gần đây thành phố đã có sự đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng GTVT, cải thiện hệ thống xe buýt với kết quả là số người sử dụng xe buýt đã tăng nhanh nhưng tổng số các chuyến đi bằng phương tiện công cộng vẫn còn thấp. Phần lớn các chuyến đi được thực hiện bằng xe máy, các chuyến đi bằng xe con và xe taxi mặc dù chiếm một tỷ lệ nhỏ các chuyến đi nhưng cũng đang tăng nhanh. Tình trạng ùn tắc giao thông ngày càng gia tăng và đường phố trở nên mất an toàn do tình trạng giao thông hỗn hợp giữa các loại phương tiện. Đặc biệt là khu vực trung tâm nơi có nhiều đường phố 2 – 4 làn xe.
Trước tình hình nêu trên, “ Quy hoạch phát triển GTVT thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020” đã được lập với mục tiêu xây dựng và từng bước hoàn chỉnh hiện đại hóa mạng lưới giao thông, đảm bảo cho thành phố phát triển ổn định, cân bằng, bền vững và lâu dài. Ngày 22/01/2007, Thủ tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 101/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển GTVT 10 thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020”, khi đó hệ thống đường sắt đô thị được thiết lập sẽ tạo nên chuyển biến lớn trong cách sống của người dân thành phố Hồ Chí Minh. Để hệ thống Metro sau khi đi vào khai thác đạt hiệu quả cao, nhất thiết phải tổ chức một hệ thống GTCC nối kết tốt với hệ thống Metro. Do đó, việc tổ chức GTCC có khả năng nối kết tốt là vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu.
Do thời gian có hạn nên tác giả chỉ nghiên cứu phạm vi là địa bàn quận 1.2 Mục tiêu nghiên cứu. Tìm hiểu một số mô hình xe buýt vừa và nhỏ được sử dụng trong khu vực trung tâm đô thị phù hợp với điều kiện đường phố 2 – 4 làn xe ở một số nước trên thế giới. Tìm hiểu về đặc điểm dòng hành khách trong khu vực nội thành ở Tp HCM. Từ đó nghiên cứu lựa chọn, bố trí một số tuyến buýt vừa và nhỏ phù hợp với nhu cầu trong khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là địa bàn quận 1.
Đây sẽ là tuyến buýt có khả năng kết nối tốt các khu dân cư với hệ thống giao thông công cộng hiện có trên địa bàn quận 1, nhằm thu hút hành khách ở những nơi mà hệ thống giao thông công cộng chưa đến được.3 Nội dung nghiên cứu Phân tích đánh giá thực trạng giao thông công cộng trên địa bàn quận 1. Tìm hiểu kinh nghiệm các nước trên thế giới về tổ chức giao thông công cộng. Xác định cơ sở khoa học, văn bản pháp lý, các nguyên tắc tổ chức hệ thống giao thông công cộng trên địa bàn. Đề xuất các giải pháp tổ chức giao thông công cộng trên địa bàn khu vực quận 1.
Lựa chọn loại xe có thiết kế phù hợp.4 Phương pháp nghiên cứu Khảo sát, thu thập các số liệu về các loại phương tiện giao thông công cộng, dân số, nhu cầu đi lại… 11 Thống kê các số liệu đã khảo sát, thu thập được. Tham khảo kinh nghiệm các nước trên thế giới về tổ chức giao thông công cộng. Phân tích tổng hợp các bài học kinh nghiệm, nêu các vấn đề cần giải quyết. Xây dựng các nguyên tắc cơ bản và cơ sở khoa học để bố trí hệ thống giao thông công cộng.
Vận dụng các nguyên tắc về tổ chức giao thông công cộng để đề xuất tổ chức giao thông công cộng trên địa bàn khu vực quận 1.5 Giới hạn đề tài Nghiên cứu xây dựng tuyến buýt nội quân khu vực quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh. 12 CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG GIAO THÔNG CÔNG CỘNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ KINH NGHIỆM TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.1 Thực trạng giao thông công cộng ở Tp.HCM Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích khoảng 2095 km2, có 3880 con đường với tổng chiều dài đường các cấp hạng khoảng 3534 km nhưng phần lớn các tuyến đường tại thành phố có chiều ngang rất hẹp, phân bố không đồng đều. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 5 – 7% diện tích cho đường sá, chỉ bằng 20 – 35% so với tiêu chuẩn là 20 – 25%. Số lượng đường có bề rộng nhỏ hơn 7m chiếm tới gần 70 % tổng diện tích đường toàn thành phố (hình 2.1), điều này gây khó khăn trong việc tổ chức giao thông trong đó có tổ chức vận tải hành khách công cộng.
Ngoài ra còn nhiều con đường bị xuống cấp nặng nề và chưa sửa chữa được.1: Tỉ lệ diện tích đường ở TP HCM. (nguồn Bộ Xây dựng) Hiện tại, chỉ có khoảng 16% diện tích đường có thể tổ chức vận chuyển bằng xe buýt lớn thuận lợi; 14% diện tích đường có chiều rộng 7 đến 10m có thể cho các loại xe buýt trung lưu thông còn lại gần 70% diện tích đường còn lại có thể dùng cho xe buýt vừa và nhỏ, xe 2-3 bánh lưu thông. 13 Hiện có 150 tuyến xe bus trong đó có 109 tuyến xe bus mẫu (trợ giá). Khối lượng vận tải hành khách bằng xe buýt hiện đạt khoảng 1,57 triệu khách/ngày, tức đáp ứng khoảng 6,5% trên tổng lượng vận tải hành khách toàn thành phố.
Mạng lưới các tuyến xe bus chưa có tính nối kết toàn mạng và liên hoàn, mang tính trực tiếp (cho một chuyến đi), không có tuyến xuyên tâm hoặc vòng tròn…, chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các tuyến, các loại hình xe bus tại các điểm giao cắt, hoạt động tương đối đơn độc, tần suất của các tuyến phân bố không hợp lý dẫn tới việc chuyển tuyến khá bất tiện cho hành khách. Tình trạng xe buýt Tp.HCM hiện nay là kết quả của sự phát triển phương tiện giao thông công cộng thiếu quy hoạch bài bản về phát triển vận tải hành khách công cộng trong thời kỳ mới. Ngoài ra, mô hình quản lý xe buýt của Thành phố còn nhiều bất cập, không phù hợp với điều kiện mới. Dẫn tới thực trạng là xe buýt xuống cấp trầm trọng, gây mất thẩm mỹ.
Các tuyến hiện nay chủ yếu bố trí trên các tuyến trục và sử dụng các loại xe buýt lớn (xe buýt tiêu chuẩn), trong khi đó thì một số tuyến có lượng hành khách đông trong khi một số tuyến thì vắng khách nên tỉ lệ sử dụng chỗ không cao, lượng khách chỉ khoảng 1/4 – 1/3 nên hiệu quả không cao, bù lỗ nhiều ( khi đầy sẽ không phải bù lỗ hoặc bù lỗ ít hơn). Ngoài ra trong giờ cao điểm xe buýt lớn cũng góp phần với nguồn chính là ô tô con và xe máy gây ùn tắc giao thông, đặc biệt là ở các khu trung tâm như Bến Thành và Chợ Lớn. Quỹ đất dành cho giao thông đô thị còn thấp, chỉ chiếm dưới 10% diện tích đất đô thị tại hai TP lớn là Hà Nội và TPHCM. Mạng lưới giao thông phân bố không đều, đường đô thị ngắn và hẹp, có nhiều ngõ nhỏ cắt ngang; các tuyến đường vành đai chưa hoàn chỉnh và khép kín; hệ thống giao thông tĩnh như bến bãi, điểm đổ xe, trạm dừng nghỉ còn thiếu và chất lượng thấp; các nút giao thông chủ yếu là giao cắt bằng, nhiều nút quá tải và là trọng điểm về ùn tắc giao thông.
Hiện nay tỉ lệ người dân sử dụng phương tiện cá nhân hiện đang ở mức cao, do đó sẽ rất khó khăn trong việc giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông. Vì khi tổng lượng phương tiện tham gia giao thông không giảm trong khi diện tích cho giao thông 14 không tăng nên vấn đề ùn tắc là không tránh khỏi. Do đó vấn đề cần giải quyết hiện nay là hạn chế phương tiện cá nhân, đồng thời nâng cao, sắp xếp, bố trí một cách khoa học mạng lưới phương tiện giao thông công cộng. Tình trạng xe buýt chạy ẩu, giành đường, vượt ẩu, thái độ phục vụ của tiếp viên, tài xế chưa tốt cũng góp phần làm cho bộ mặt phương tiện công cộng ở Tp.HCM trở nên xấu hơn trong mắt người dân.
Lựa chọn loại hình GTCC phù hợp là một yêu cầu cần thiết cho giao thông ở TP. Hiện nay giao thông công cộng chủ lực của Thành phố Hồ Chí Minh là các loại xe buýt lớn. Hệ thống giao thông Thành phố Hồ Chí Minh có một vài đặc điểm rất quan trọng không phù hợp với loại hình này. Thứ nhất là các đường nội ô rất hẹp, đến 70% là đường có chiều rộng nhỏ hơn 7 mét, đường giao thông nhanh xuyên tâm không nhiều, nhưng chiều rộng đường lại không đều có đoạn rộng nhưng lại có đoạn bị bóp lại như đường Xa lộ Hà Nội – Điện Biên Phủ, thêm vào nữa là việc tách làn đường dành riêng cho xe buýt chỉ thực hiện được ở những đoạn rất ngắn như vậy khi xe buýt lớn không phát huy được tác dụng.
Thứ hai là tất cả các con đường bị giao cắt liên tục bởi những đường ngang từ trong các hẻm đâm ra, muốn đi nhanh cũng không được trong khi ưu thế của xe buýt là chạy nhanh vận chuyển nhiều.