mở đầu có ý nghĩa, đặt ra những nền móng đầu tiên cho đường lối đổi mới mà sau này được Đại hội VI khẳng định. Cùng với nhiều chủ trương kinh tế đúng đắn nhằm "làm cho sản xuất bung ra", Hội nghị khẳng định sự cần thiết kết hợp kế hoạch với thị trường, kết hợp thị trường có kế hoạch với thị trường không có kế hoạch, nhìn nhận tích cực hơn với kinh tế tư nhân. Chính trên cơ sở những quyết sách đúng. đắn ở thời điểm đó, mà nhiều địa phương đã mở ra những tìm tòi sáng tạo về phát triển kinh tế hộ tiểu thủ công nghiệp, sửa đổi giá, lương, tiền, tiếp đến Ban Bí thư ra Chỉ thị 100 về Khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động.
trong hợp tác xã nông nghiệp, Chính phủ ra Nghị định 25-CP, 26-CP xác định việc sử dụng các quan hệ thị trường, v. Bước ngoặt cơ bản là từ Đại hội lần thứ VI của Đảng [6]. Sau khi phê phán "những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh", mắc bệnh "chủ quan, duy ý chí, giản đơn hóa", "chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan", Đại hội khẳng định đường lối đổi mới, chỉ rõ "nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ", chỉ rõ sáu thành phân kinh tế: kinh tế quốc doanh; kinh tế tập thể; kinh tế gia đình; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước. Xin lưu ý là Đại hội VI, trong khi thừa nhận sự cần thiết của kinh tế tư bản tư nhân, cũng chỉ "cho phép những nhà tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức kỹ thuật và quản lý của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh trong một số ngành, nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ ở những nơi cần thị Quy mô và phạm vỉ hoạt động của các cơ sở kinh tế tư bản tư nhân được quy định tủy theo ngành, nghề và mặt hàng".
Theo nghị quyết Đại hội VI, "quá trình sử dụng kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa và kinh tế tư bản tư nhân luôn luôn gắn liền với quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần đó bằng nhiều hình thức". "Kinh tế xã hội chủ nghĩa với khu vực quốc doanh làm nòng cốt phải giành được vai trò quyết định trong. nền kinh tế quốc dân, cụ thể là chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông, thể hiện tính ưu việt và chỉ pl được các thành phần kinh tế khác thông qua liên kết kinh tế và "trong lĩnh vực lưu thông, phải xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân". Khái niệm "kinh tế tư nhân" được chính thức sử dụng từ Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Khóa VI (tháng 3-1989).
Nghị quyết chỉ rõ: "trong điều kiện của nước ta, các hình thức kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) vẫn cần thiết lâu đài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội". 'Về mặt quy định pháp lý, việc ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (năm 1990) đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân với các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cỗ phần và doanh nghiệp tư nhân. Đại hội lần thir VII cia Dang [7] quy định "Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước, trong đó, kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư ban tu nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức”. Đại hội lần thứ VII của Đảng [8] quyết định "kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nên tảng.
Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dai". Đại hội lần thứ IX của Đảng [9] khăng định " Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc". Đại hội quyết định "Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cắm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyên thành doanh nghiệp cổ phần, bán cô phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước.
Xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động". Bước chuyển biến mới về tư duy đối với kinh tế tư nhân được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Trung ương Khóa IX (3-2002). Theo Nghị quyết, "Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong.
phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nhghĩa". Và đến Đại hội X năm 2006 [10] đã đưa ra quan niệm thống nhất về kinh tế tư nhân. Hai thành phần kinh tế là kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân đã được gộp chung vào thành một thành phần kinh tế duy nhất là thành phần kinh tế tư nhân với hai hình thức tồn tại cơ bản là cá thể, tiểu chủ 10 và tư bản tư nhân. Điều này trong văn kiện Đạt hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã xác định rõ: "trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tap thé, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài" Như vậy, có thể hiểu kinh tế tư nhân là một thành phân kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân vẻ tư liệu sản xuất, vốn và kết quả sản xuất kinh doanh được tạo ra cũng thuộc vẻ người sở hữu tư liệu sản xuất và vốn ấy.
Cac thành phân của kinh tế tư nhân a. Thành phần kinh tế cá thê, tiểu chủ: Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động. Kinh tế tiểu chủ cũng chính là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình. Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phát huy nhanh tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động.
Do đó, việc mở rộng sản xuất, kinh doanh của kinh tế cá thể và tiểu chủ cần được khuyến khích. Hiện nay, ở nước ta, thành phần kinh tế này phần lớn hoạt động dưới hình thức hộ gia đình, đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng, lâu dài. Đối với nước ta, cần phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế này để vừa góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, vừa giải quyết nhiều việc làm cho người lao động - một vấn đề bức bách hiện nay của đời sống kinh tế xã hội. Trong những năm gần đây, thành phần kinh tế này phát triển nhanh chóng trong nông, lâm, ngư nghiệp và thương mại, dịch vụ.
11 Nó đã góp phan quan trong vào các thành tựu kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, kinh tế cá thể tiểu chủ dù có gắng đến bao nhiêu cũng. không loại bỏ được những hạn chế vốn có như: tính tự phát, manh mún, hạn kỹ thuật. Thành phần kinh tế tư bản tư nhân: Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động làm thuê.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, thành phần này có vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hoá sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là thành phần kinh tế rất năng động nhạy bén với kinh tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước. Hiện nay, kinh tế tư bản tư nhân bước đầu có sự phát triển, nhưng phần lớn tập trung vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ và kinh doanh bắt động sản; đầu tư vào sản xuất con ít và chủ yếu quy mô vừa và nhỏ. Các loại hình tổ chức kinh doanh cơ bản a.
Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập làm chủ. Cá nhân này vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường chủ doanh nghiệp là giám đốc, trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhưng cũng có trường hợp vì những lí do cần thiết, chủ doanh nghiệp không trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh mà thuê 12 người khác làm giám đốc. Nhưng dù trực tiếp hay gián tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân quản lý và tự chịu trách nhiệm không có sự phân chia rủi ro v: Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiêm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu làm ăn phát đạt thu được nhiều lợi nhuận, chủ doanh nghiệp được. hưởng toàn bộ số lợi đó.