Luận văn thạc sĩ: Phát triển kinh tế tư nhân tại tỉnh Quảng Trị

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích phát triển kinh tế tư nhân tỉnh quảng trị, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

128
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Vai trò chiến lược của kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Trị

Kinh tế tư nhân (KTTN) đã và đang khẳng định vai trò là một động lực tăng trưởng quan trọng, một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong nền kinh tế nhiều thành phần của tỉnh Quảng Trị. Luận văn thạc sĩ “Phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Trị” của tác giả Hoàng Lê Duy (2011) đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn, khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và đóng góp vào sự phát triển chung. Sự trỗi dậy của khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm các doanh nghiệp tư nhân Quảng Trịhộ kinh doanh cá thể, đã huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội như vốn, lao động và kinh nghiệm sản xuất. Điều này không chỉ góp phần giải phóng năng lực sản xuất mà còn tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Theo số liệu phân tích trong luận văn, đóng góp của KTTN vào ngân sách và tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ngày càng tăng, minh chứng cho sức sống và tiềm năng to lớn của khu vực này. Cụ thể, trong cơ cấu GRDP của tỉnh, thành phần kinh tế tư bản tư nhân đã tăng từ 11,48% (2005) lên 18,9% (2009), trong khi kinh tế cá thể tiểu chủ luôn chiếm tỷ trọng lớn, tăng từ 53,01% lên 56,41% trong cùng giai đoạn. Sự phát triển này là nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng GRDP Quảng Trị và hướng tới phát triển bền vững trong tương lai.

1.1. Đóng góp của KTTN vào tăng trưởng GRDP Quảng Trị

Sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh Quảng Trị là minh chứng rõ nét nhất cho vai trò động lực của nó. Luận văn chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2005-2009, tỷ trọng đóng góp của kinh tế tư nhân vào GRDP liên tục tăng. Cụ thể, thành phần kinh tế tư bản tư nhân tăng từ 11,48% lên 18,9%, và thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ tăng từ 53,01% lên 56,41%. Những con số này cho thấy KTTN không chỉ tham gia mà còn dẫn dắt một phần quan trọng trong tăng trưởng GRDP Quảng Trị, tạo ra giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế địa phương. Sự năng động của các doanh nghiệp tư nhân Quảng Trị đã giúp khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của tỉnh, đặc biệt trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ và xây dựng.

1.2. Vai trò giải quyết việc làm và đóng góp ngân sách

Bên cạnh đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, vai trò của kinh tế tư nhân còn thể hiện rõ rệt trong việc giải quyết việc làm và tăng thu ngân sách. Theo nghiên cứu, số lao động làm việc trong khu vực KTTN đã tăng từ 39.220 người (2005) lên 65.984 người (2009), tăng 70%. Điều này cho thấy KTTN là kênh tạo việc làm chính, góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Về đóng góp của KTTN vào ngân sách, các doanh nghiệp tư nhân Quảng Trị đã nộp ngân sách 294.293 triệu đồng vào năm 2009, tăng 274% so với năm 2005. Các hộ kinh doanh cá thể cũng đóng góp một phần quan trọng, dù tỷ trọng có xu hướng giảm nhưng giá trị tuyệt đối vẫn tăng, đạt 55.625 triệu đồng (2009). Đây là những nguồn thu quan trọng để tái đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và các chương trình xã hội của tỉnh.

II. Thách thức lớn đối với kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Trị

Mặc dù đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, thực trạng kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Trị vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn và hạn chế mang tính cố hữu. Luận văn đã chỉ ra những thách thức lớn cản trở sự phát triển bền vững của khu vực này. Hạn chế lớn nhất đến từ năng lực nội tại yếu kém: quy mô sản xuất nhỏ và siêu nhỏ, vốn ít, công nghệ lạc hậu. Đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ Quảng Trị phụ thuộc lớn vào vốn vay, làm giảm khả năng tự chủ và tăng rủi ro tài chính. Tình trạng này khiến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn thấp, khó chiếm lĩnh thị trường. Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh tuy đã cải thiện nhưng vẫn còn những rào cản. Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2009 cho thấy Quảng Trị còn hạn chế về tính minh bạch, chi phí thời gian thực hiện thủ tục hành chính và khả năng tiếp cận đất đai. Hơn nữa, chất lượng nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, lao động qua đào tạo chiếm tỷ lệ chưa cao, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và khả năng đổi mới. Đây là những nút thắt cần được tháo gỡ để tạo đà cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển tương xứng với tiềm năng.

2.1. Hạn chế về quy mô vốn và năng lực cạnh tranh

Một trong những hạn chế cốt lõi của doanh nghiệp tư nhân Quảng Trị là quy mô nhỏ, thể hiện rõ qua cơ cấu vốn. Luận văn chỉ ra rằng, tính đến năm 2009, có đến 42,1% doanh nghiệp có quy mô vốn từ 1 đến dưới 5 tỷ đồng, và chỉ 1,2% có vốn từ 50 đến dưới 200 tỷ. Vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ lệ thấp so với nợ phải trả, khiến doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn vốn vay ngân hàng. Điều này trực tiếp hạn chế khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và làm suy yếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Khi phải đối mặt với các doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Quảng Trị thường gặp bất lợi về giá thành, chất lượng sản phẩm và khả năng tiếp cận thị trường.

2.2. Rào cản từ môi trường kinh doanh và thủ tục hành chính

Việc cải thiện môi trường kinh doanh là yếu tố sống còn để thu hút đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, theo phân tích từ chỉ số PCI 2009, các doanh nghiệp tại Quảng Trị vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận đất đai (72,62% có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và cho rằng cần có “mối quan hệ” để tiếp cận tài liệu của tỉnh (78,26%). Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước, các hoạt động thanh tra, kiểm tra còn là gánh nặng. Những rào cản này không chỉ làm tăng chi phí tuân thủ mà còn làm giảm động lực đầu tư, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của khu vực kinh tế tư nhân. Cải cách thủ tục hành chính một cách thực chất là yêu cầu cấp thiết.

2.3. Thách thức về công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng

Công nghệ sản xuất của phần lớn doanh nghiệp còn lạc hậu, dẫn đến năng suất thấp và chất lượng sản phẩm chưa cao. Việc thiếu vốn khiến quá trình đổi mới công nghệ diễn ra chậm chạp. Song song đó, nguồn nhân lực chất lượng cao là một điểm yếu khác. Dữ liệu cho thấy tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo vẫn còn khá cao, đặc biệt trong các công ty cổ phần (trên 45%) và công ty TNHH (trên 42%). Trình độ của chủ doanh nghiệp cũng là một vấn đề, khi một bộ phận không nhỏ chưa qua đào tạo bài bản. Sự yếu kém về công nghệ và nhân lực là rào cản lớn cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất và hội nhập kinh tế.

III. Giải pháp đột phá cải thiện môi trường kinh doanh KTTN

Để tháo gỡ những điểm nghẽn, luận văn đề xuất một hệ thống các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân mang tính tổng thể, bắt đầu từ việc kiến tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi và minh bạch. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện môi trường đầu tư. Việc thực hiện hiệu quả mô hình “một cửa”, công khai hóa các quy trình, biểu mẫu và giảm thiểu thời gian xử lý thủ tục sẽ tạo ra cú hích lớn. Tỉnh cần quyết liệt rà soát, bãi bỏ các giấy phép không còn phù hợp, đồng thời xây dựng cơ chế giám sát chặt chẽ để xử lý các hành vi sách nhiễu của cán bộ công chức. Một môi trường pháp lý bình đẳng, nơi các doanh nghiệp tư nhân Quảng Trị được đối xử công bằng như các thành phần kinh tế khác, là nền tảng cho sự phát triển. Bên cạnh đó, công tác phổ biến, tuyên truyền quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về vai trò của kinh tế tư nhân cần được tăng cường. Điều này giúp xóa bỏ định kiến, tạo sự đồng thuận trong xã hội, và khích lệ tinh thần khởi nghiệp tại Quảng Trị. Việc xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh chính là giải pháp phát triển kinh tế tư nhân bền vững nhất.

3.1. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và tính minh bạch

Cải cách thủ tục hành chính là giải pháp tiên quyết để cải thiện môi trường kinh doanh. Luận văn đề nghị tỉnh cần thực hiện quyết liệt mô hình “một cửa”, giảm thời gian thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và con dấu từ 30 ngày xuống còn 7 ngày. Đồng thời, cần niêm yết công khai mọi quy trình, biểu mẫu, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục qua mạng. Việc thường xuyên tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo tỉnh và doanh nghiệp giúp giải quyết kịp thời các vướng mắc, tạo dựng niềm tin và một môi trường đầu tư thực sự thông thoáng, minh bạch.

3.2. Hoàn thiện chính sách đất đai và cơ sở hạ tầng

Tiếp cận đất đai là một trong những khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp. Giải pháp được đưa ra là cần quy hoạch đồng bộ các khu, cụm công nghiệp, xác định rõ giá đất và phí sử dụng hạ tầng. Tỉnh cần đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp để họ có tài sản thế chấp vay vốn. Ngoài ra, việc đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng như giao thông, điện, nước tại các khu kinh tế trọng điểm sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư tư nhân, đặc biệt là các dự án dọc theo Hành lang kinh tế Đông - Tây.

3.3. Xây dựng môi trường pháp lý bình đẳng và cạnh tranh

Một môi trường cạnh tranh lành mạnh đòi hỏi sự bình đẳng trước pháp luật. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần được áp dụng chung cho mọi thành phần kinh tế, không phân biệt đối xử. Các cơ chế ưu đãi đầu tư nên dựa trên lĩnh vực, ngành nghề, khu vực khuyến khích thay vì loại hình sở hữu. Cần có chế tài xử lý nghiêm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gian lận thương mại để bảo vệ các doanh nghiệp làm ăn chân chính, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp một cách bền vững.

IV. Top chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân Quảng Trị

Bên cạnh việc cải thiện môi trường vĩ mô, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp một cách trực tiếp và cụ thể có vai trò quyết định đến sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân. Luận văn của Hoàng Lê Duy (2011) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách hỗ trợ về vốn, công nghệ, thông tin thị trường và đào tạo nguồn nhân lực. Vấn đề vốn luôn là bài toán nan giải đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Quảng Trị. Do đó, việc thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ phát triển doanh nghiệp và đơn giản hóa thủ tục vay vốn ngân hàng là hết sức cần thiết. Hỗ trợ về khoa học công nghệ cũng là một ưu tiên hàng đầu, thông qua các chương trình tư vấn, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ chi phí lãi vay cho các dự án đổi mới thiết bị. Ngoài ra, việc cung cấp thông tin thị trường, xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm sẽ giúp mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Cuối cùng, đầu tư vào đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua các lớp bồi dưỡng quản trị doanh nghiệp và tay nghề cho người lao động sẽ là yếu tố then chốt giúp nâng cao năng lực cạnh tranh một cách toàn diện.

4.1. Giải pháp hỗ trợ tiếp cận các nguồn vốn tín dụng

Thiếu vốn là rào cản lớn nhất. Luận văn đề xuất tỉnh nên thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng để hỗ trợ các doanh nghiệp không đủ tài sản thế chấp nhưng có dự án khả thi có thể vay vốn. Bên cạnh đó, cần trích một phần ngân sách để lập Quỹ phát triển doanh nghiệp nhằm tài trợ các chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh. Các ngân hàng thương mại cần có cơ chế linh hoạt, đơn giản hóa thủ tục thẩm định, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Quảng Trị tiếp cận nguồn vốn tín dụng một cách thuận lợi hơn. Đồng thời, cần minh bạch hóa quy trình định giá tài sản thế chấp để đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp.

4.2. Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ và xúc tiến thương mại

Để khắc phục tình trạng công nghệ lạc hậu, tỉnh cần có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cụ thể như hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ lãi suất vay vốn cho mục đích đầu tư đổi mới công nghệ. Sở Khoa học và Công nghệ cần đóng vai trò là trung tâm tư vấn, cung cấp thông tin về thị trường công nghệ. Về xúc tiến thương mại, cần thành lập các trung tâm thông tin thị trường, hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp tham gia hội chợ trong và ngoài nước, đồng thời xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm chủ lực của tỉnh, giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ.

4.3. Tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Tỉnh cần phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức các lớp bồi dưỡng về quản trị doanh nghiệp, marketing, tài chính cho các chủ doanh nghiệp. Thông qua các chương trình khuyến công, khuyến nông, cần bố trí ngân sách để hỗ trợ đào tạo nghề cho người lao động. Chính sách hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo hoặc gửi lao động đi đào tạo sẽ khuyến khích việc nâng cao tay nghề, từng bước xây dựng đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

V. Phân tích SWOT và hướng đi cho kinh tế tư nhân Quảng Trị

Trên cơ sở phân tích thực trạng, luận văn đã cung cấp những luận cứ quan trọng để xây dựng một mô hình phân tích SWOT kinh tế Quảng Trị, từ đó vạch ra hướng đi chiến lược cho khu vực kinh tế tư nhân. Về điểm mạnh (Strengths), Quảng Trị có vị trí địa lý thuận lợi trên Hành lang kinh tế Đông - Tây, nguồn tài nguyên khá phong phú và nguồn lao động dồi dào. Điểm yếu (Weaknesses) là quy mô doanh nghiệp nhỏ, công nghệ lạc hậu, hạ tầng chưa đồng bộ và khí hậu khắc nghiệt. Cơ hội (Opportunities) mở ra từ các chính sách khuyến khích đầu tư của trung ương và địa phương, xu hướng hội nhập kinh tế và tiềm năng phát triển du lịch, kinh tế biển. Thách thức (Threats) đến từ sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự biến động của thị trường và những tác động của biến đổi khí hậu. Từ phân tích này, hướng đi cho doanh nghiệp tư nhân Quảng Trị là phải tập trung khai thác các lợi thế cạnh tranh của tỉnh, đặc biệt là lợi thế từ vị trí địa lý. Doanh nghiệp cần chủ động liên kết, hợp tác để khắc phục điểm yếu về quy mô, đồng thời đầu tư vào công nghệ và chất lượng nhân lực để nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức.

5.1. Khai thác lợi thế cạnh tranh của tỉnh Quảng Trị

Quảng Trị sở hữu lợi thế cạnh tranh của tỉnh Quảng Trị đặc biệt là vị trí chiến lược trên Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC). Đây là cửa ngõ giao thương quan trọng, tạo điều kiện phát triển mạnh các ngành thương mại, dịch vụ, logistics. Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo là một lợi thế lớn cần được khai thác triệt để. Ngoài ra, tiềm năng về kinh tế biển, du lịch lịch sử - văn hóa (Thành cổ Quảng Trị, địa đạo Vĩnh Mốc) và nông nghiệp công nghệ cao (cao su, cà phê, hồ tiêu) là những lĩnh vực mà doanh nghiệp tư nhân Quảng Trị cần tập trung đầu tư để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ khác biệt và có giá trị gia tăng cao.

5.2. Xây dựng chiến lược kinh doanh dựa trên phân tích SWOT

Dựa trên mô hình phân tích SWOT kinh tế Quảng Trị, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp. Các doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội từ chính sách ưu đãi đầu tư để khắc phục điểm yếu về vốn và công nghệ. Chiến lược sản phẩm cần tập trung vào các mặt hàng thế mạnh, có khả năng cạnh tranh cao. Đồng thời, các doanh nghiệp cần liên doanh, liên kết với nhau để tạo thành chuỗi giá trị, nâng cao sức mạnh tập thể. Việc chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng thương hiệu và áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng tiên tiến là yếu tố bắt buộc để tồn tại và phát triển trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay.

VI. Định hướng tương lai cho kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Trị

Từ những phân tích sâu sắc trong luận văn, định hướng tương lai cho khu vực kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Trị là phát triển theo chiều sâu, hướng tới sự bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh. Mục tiêu không chỉ là tăng về số lượng doanh nghiệp mà quan trọng hơn là nâng cao về chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động. Để thực hiện được điều này, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nỗ lực tự thân của doanh nghiệp và vai trò kiến tạo của chính quyền địa phương. Các doanh nghiệp cần chủ động đổi mới quản trị, đầu tư công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng văn hóa kinh doanh có trách nhiệm. Về phía chính quyền, cần tiếp tục thực hiện nhất quán các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân đã đề ra, đặc biệt là cải thiện môi trường kinh doanh và các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Tương lai của kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Trị gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đóng góp ngày càng lớn vào sự thịnh vượng chung của tỉnh.

6.1. Hướng tới mục tiêu phát triển bền vững và toàn diện

Tương lai của KTTN không chỉ là tăng trưởng mà phải là phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải chú trọng đến các yếu tố xã hội và môi trường. Các mô hình kinh doanh cần gắn với việc sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và đảm bảo lợi ích cho người lao động. Chính quyền cần có chính sách khuyến khích các dự án đầu tư theo hướng công nghệ sạch, sản xuất hữu cơ và du lịch sinh thái. Sự phát triển bền vững sẽ giúp nâng cao uy tín và thương hiệu của không chỉ doanh nghiệp mà còn của cả tỉnh Quảng Trị.

6.2. Nâng cao vai trò chủ động của doanh nghiệp tư nhân

Trong giai đoạn tới, sự chủ động của chính các chủ doanh nghiệp là yếu tố quyết định. Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn thay vì chạy theo lợi ích ngắn hạn. Việc liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp để tạo sức mạnh chung, cùng nhau khai thác thị trường, xây dựng thương hiệu là xu hướng tất yếu. Tinh thần khởi nghiệp tại Quảng Trị cần được lan tỏa mạnh mẽ, khuyến khích các ý tưởng kinh doanh sáng tạo, gắn với tiềm năng và lợi thế của địa phương, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế tư nhân tỉnh Quảng Trị một cách vững chắc.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển kinh tế tư nhân tỉnh quảng trị

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu có ý nghĩa, đặt ra những nền móng đầu tiên cho đường lối đổi mới mà sau này được Đại hội VI khẳng định. Cùng với nhiều chủ trương kinh tế đúng đắn nhằm "làm cho sản xuất bung ra", Hội nghị khẳng định sự cần thiết kết hợp kế hoạch với thị trường, kết hợp thị trường có kế hoạch với thị trường không có kế hoạch, nhìn nhận tích cực hơn với kinh tế tư nhân. Chính trên cơ sở những quyết sách đúng. đắn ở thời điểm đó, mà nhiều địa phương đã mở ra những tìm tòi sáng tạo về phát triển kinh tế hộ tiểu thủ công nghiệp, sửa đổi giá, lương, tiền, tiếp đến Ban Bí thư ra Chỉ thị 100 về Khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động.

trong hợp tác xã nông nghiệp, Chính phủ ra Nghị định 25-CP, 26-CP xác định việc sử dụng các quan hệ thị trường, v. Bước ngoặt cơ bản là từ Đại hội lần thứ VI của Đảng [6]. Sau khi phê phán "những biểu hiện nóng vội muốn xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh", mắc bệnh "chủ quan, duy ý chí, giản đơn hóa", "chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan", Đại hội khẳng định đường lối đổi mới, chỉ rõ "nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ", chỉ rõ sáu thành phân kinh tế: kinh tế quốc doanh; kinh tế tập thể; kinh tế gia đình; kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa; kinh tế tư bản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước. Xin lưu ý là Đại hội VI, trong khi thừa nhận sự cần thiết của kinh tế tư bản tư nhân, cũng chỉ "cho phép những nhà tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức kỹ thuật và quản lý của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh trong một số ngành, nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ ở những nơi cần thị Quy mô và phạm vỉ hoạt động của các cơ sở kinh tế tư bản tư nhân được quy định tủy theo ngành, nghề và mặt hàng".

Theo nghị quyết Đại hội VI, "quá trình sử dụng kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa và kinh tế tư bản tư nhân luôn luôn gắn liền với quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần đó bằng nhiều hình thức". "Kinh tế xã hội chủ nghĩa với khu vực quốc doanh làm nòng cốt phải giành được vai trò quyết định trong. nền kinh tế quốc dân, cụ thể là chiếm tỷ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông, thể hiện tính ưu việt và chỉ pl được các thành phần kinh tế khác thông qua liên kết kinh tế và "trong lĩnh vực lưu thông, phải xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân". Khái niệm "kinh tế tư nhân" được chính thức sử dụng từ Hội nghị lần thứ 6 của Trung ương Khóa VI (tháng 3-1989).

Nghị quyết chỉ rõ: "trong điều kiện của nước ta, các hình thức kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) vẫn cần thiết lâu đài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội". 'Về mặt quy định pháp lý, việc ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân (năm 1990) đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân với các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cỗ phần và doanh nghiệp tư nhân. Đại hội lần thir VII cia Dang [7] quy định "Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước, trong đó, kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư ban tu nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức”. Đại hội lần thứ VII của Đảng [8] quyết định "kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nên tảng.

Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dai". Đại hội lần thứ IX của Đảng [9] khăng định " Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc". Đại hội quyết định "Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cắm. Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyên thành doanh nghiệp cổ phần, bán cô phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước.

Xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động". Bước chuyển biến mới về tư duy đối với kinh tế tư nhân được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Trung ương Khóa IX (3-2002). Theo Nghị quyết, "Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong.

phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nhghĩa". Và đến Đại hội X năm 2006 [10] đã đưa ra quan niệm thống nhất về kinh tế tư nhân. Hai thành phần kinh tế là kinh tế cá thể, tiểu chủ; kinh tế tư bản tư nhân đã được gộp chung vào thành một thành phần kinh tế duy nhất là thành phần kinh tế tư nhân với hai hình thức tồn tại cơ bản là cá thể, tiểu chủ 10 và tư bản tư nhân. Điều này trong văn kiện Đạt hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã xác định rõ: "trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân, tập thể, tư nhân), hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tap thé, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài" Như vậy, có thể hiểu kinh tế tư nhân là một thành phân kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân vẻ tư liệu sản xuất, vốn và kết quả sản xuất kinh doanh được tạo ra cũng thuộc vẻ người sở hữu tư liệu sản xuất và vốn ấy.

Cac thành phân của kinh tế tư nhân a. Thành phần kinh tế cá thê, tiểu chủ: Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và khả năng lao động của bản thân người lao động. Kinh tế tiểu chủ cũng chính là hình thức kinh tế dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình. Kinh tế cá thể, tiểu chủ đang có vị trí rất quan trọng trong nhiều ngành nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phát huy nhanh tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động.

Do đó, việc mở rộng sản xuất, kinh doanh của kinh tế cá thể và tiểu chủ cần được khuyến khích. Hiện nay, ở nước ta, thành phần kinh tế này phần lớn hoạt động dưới hình thức hộ gia đình, đang là một bộ phận đông đảo, có tiềm năng to lớn, có vị trí quan trọng, lâu dài. Đối với nước ta, cần phát triển mạnh mẽ thành phần kinh tế này để vừa góp phần tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, vừa giải quyết nhiều việc làm cho người lao động - một vấn đề bức bách hiện nay của đời sống kinh tế xã hội. Trong những năm gần đây, thành phần kinh tế này phát triển nhanh chóng trong nông, lâm, ngư nghiệp và thương mại, dịch vụ.

11 Nó đã góp phan quan trong vào các thành tựu kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, kinh tế cá thể tiểu chủ dù có gắng đến bao nhiêu cũng. không loại bỏ được những hạn chế vốn có như: tính tự phát, manh mún, hạn kỹ thuật. Thành phần kinh tế tư bản tư nhân: Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất kinh doanh dựa trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột sức lao động làm thuê.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, thành phần này có vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, xã hội hoá sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn đề xã hội. Đây cũng là thành phần kinh tế rất năng động nhạy bén với kinh tế thị trường, do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước. Hiện nay, kinh tế tư bản tư nhân bước đầu có sự phát triển, nhưng phần lớn tập trung vào lĩnh vực thương mại, dịch vụ và kinh doanh bắt động sản; đầu tư vào sản xuất con ít và chủ yếu quy mô vừa và nhỏ. Các loại hình tổ chức kinh doanh cơ bản a.

Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập làm chủ. Cá nhân này vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, đồng thời cũng là người quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường chủ doanh nghiệp là giám đốc, trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Nhưng cũng có trường hợp vì những lí do cần thiết, chủ doanh nghiệp không trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh mà thuê 12 người khác làm giám đốc. Nhưng dù trực tiếp hay gián tiếp điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân quản lý và tự chịu trách nhiệm không có sự phân chia rủi ro v: Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiêm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu làm ăn phát đạt thu được nhiều lợi nhuận, chủ doanh nghiệp được. hưởng toàn bộ số lợi đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ