Luận văn thạc sĩ: Phát triển kinh tế trang trại nông lâm tại tỉnh Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Quảng Nam, phân tích tiềm năng và giải pháp nâng cao hiệu quả nông lâm nghiệp.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

109
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn thạc sĩ kinh tế trang trại tại Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Võ Thiện Chín đi sâu vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và phân tích thực tiễn về phát triển kinh tế trang trại trong lĩnh vực nông lâm tại tỉnh Quảng Nam. Đây là một đề tài thạc sĩ kinh tế có tính cấp thiết cao, xuất phát từ vai trò trọng yếu của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt tại một tỉnh có hơn 80% dân số sống ở nông thôn như Quảng Nam. Nghiên cứu nhấn mạnh kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ, vượt trội so với kinh tế hộ gia đình quy mô nhỏ lẻ. Mục tiêu chính của luận văn là làm rõ thực trạng, chỉ ra các nguyên nhân hạn chế và từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi. Các giải pháp này nhằm thúc đẩy loại hình kinh tế này phát triển một cách hiệu quả và bền vững, góp phần vào công cuộc tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Luận văn khẳng định, phát triển mô hình trang trại không chỉ giúp khai thác hiệu quả các nguồn lực về đất đai, vốn, lao động mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập, và thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Đây là hướng đi đúng đắn, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp bền vững.

1.1. Khám phá cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại

Luận văn đã hệ thống hóa một cách toàn diện các khái niệm cốt lõi. Kinh tế trang trại được định nghĩa là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông, lâm, ngư nghiệp, có quy mô lớn hơn kinh tế hộ, hoạt động tự chủ và gắn liền với thị trường. Phát triển kinh tế trang trại không chỉ là gia tăng về số lượng, quy mô mà còn là sự nâng cao về chất lượng, hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh. Các đặc trưng cơ bản của mô hình này bao gồm: sản xuất hàng hóa là chủ yếu, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của chủ độc lập, quy mô đất đai được tập trung, và áp dụng quản lý tiến bộ. Luận văn cũng nêu bật ý nghĩa to lớn của việc phát triển kinh tế trang trại đối với chủ trang trại (tăng thu nhập), người lao động (tạo việc làm) và xã hội (góp phần vào an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới).

1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu đề tài nông nghiệp Quảng Nam

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu bao gồm: (1) Hệ thống hóa lý luận về trang trại và phát triển kinh tế trang trại. (2) Phân tích sâu sắc thực trạng sản xuất nông lâm và sự phát triển của các trang trại tại tỉnh Quảng Nam. (3) Đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong lĩnh vực nông lâm trên địa bàn tỉnh cho giai đoạn tiếp theo. Để đạt được các mục tiêu này, tác giả đã sử dụng một hệ thống phương pháp nghiên cứu đa dạng và khoa học, bao gồm phương pháp điều tra, khảo sát thực địa, phương pháp phân tích, so sánh số liệu thống kê, và phương pháp chuyên gia để tham vấn ý kiến. Cách tiếp cận này đảm bảo các kết quả nghiên cứu và đề xuất đưa ra có tính khách quan, khoa học và khả thi cao khi áp dụng vào thực tiễn tại nông nghiệp Quảng Nam.

II. Đánh giá thực trạng kinh tế trang trại nông lâm Quảng Nam

Chương 2 của luận văn tập trung phân tích sâu sắc thực trạng phát triển kinh tế trang trại trong lĩnh vực nông lâm tại tỉnh Quảng Nam. Kết quả phân tích cho thấy, dù đã có những bước phát triển ban đầu, mô hình kinh tế trang trại tại đây vẫn còn nhiều hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng. Các trang trại phát triển chậm cả về số lượng và quy mô, hiệu quả hoạt động chưa cao và thiếu tính bền vững. Nguyên nhân chính được chỉ ra bao gồm các yếu tố khách quan từ điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam (khí hậu khắc nghiệt, địa hình chia cắt) và các yếu tố chủ quan. Về chủ quan, nhận thức của chính quyền và người dân về vai trò của kinh tế trang trại chưa đầy đủ, các chính sách hỗ trợ nông nghiệp còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, bản thân các chủ trang trại cũng gặp khó khăn về vốn, thiếu kiến thức quản lý, hạn chế trong việc tiếp cận công nghệ và thị trường. Tình trạng sản xuất manh mún, thiếu liên kết trong chuỗi giá trị nông sản và năng lực cạnh- tranh thấp là những rào cản lớn. Thực trạng này đòi hỏi phải có những giải pháp phát triển kinh tế mang tính đột phá và toàn diện.

2.1. Phân tích ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam

Điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Nam mang cả thuận lợi và thách thức. Tỉnh có quỹ đất nông lâm nghiệp lớn, đặc biệt là đất đồi núi chưa sử dụng, là tiềm năng để mở rộng quy mô trang trại. Tuy nhiên, địa hình bị chia cắt mạnh, chất lượng đất đa dạng nhưng đất phù sa màu mỡ lại chiếm tỷ lệ nhỏ. Khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt, thường xuyên xảy ra bão lụt, hạn hán gây rủi ro lớn cho sản xuất. Theo luận văn, "Bão lũ xảy ra thường niên gây ngả đổ cây trồng, hư hại đê điều, các cơ sở hạ tầng của trang trại làm cho sản xuất của trang trại không ổn định, bền vững". Những yếu tố này đòi hỏi các mô hình trang trại tổng hợp phải có giải pháp thích ứng cao, đầu tư lớn cho cơ sở hạ tầng và áp dụng kỹ thuật canh tác bền vững để giảm thiểu tác động tiêu cực.

2.2. Các hạn chế trong thực trạng sản xuất nông lâm hiện tại

Thực trạng sản xuất nông lâm tại Quảng Nam vẫn còn mang nặng tính tự cấp tự túc, quy mô nhỏ, phân tán. Luận văn chỉ rõ, dù đã có sự phát triển, số lượng trang trại còn ít, quy mô (về đất đai, vốn, lao động) còn nhỏ bé. Mối liên kết sản xuất giữa các trang trại và giữa trang trại với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ còn rất lỏng lẻo. Điều này dẫn đến tình trạng bị động về thị trường, giá cả bấp bênh, hiệu quả kinh tế thấp. Hầu hết các sản phẩm chưa xây dựng được thương hiệu, sức cạnh tranh yếu. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế, chủ yếu vẫn dựa vào kinh nghiệm truyền thống, gây lãng phí tài nguyên và ảnh hưởng đến môi trường. Đây là những nút thắt lớn cần được tháo gỡ trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh.

2.3. Thách thức về lao động nông thôn và hiệu quả kinh tế

Quảng Nam có nguồn lao động nông thôn dồi dào, chiếm hơn 81% dân số. Đây là một lợi thế nhưng cũng là thách thức lớn. Chất lượng nguồn lao động còn thấp, phần lớn chưa qua đào tạo bài bản về kỹ thuật nông nghiệp và quản trị kinh doanh. Tác giả nhấn mạnh: "Trình độ của người lao động còn rất thấp, đặc biệt là tầng lớp nông dân. Đây là hạn chế lớn... ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển... KTTT". Tình trạng này làm giảm hiệu quả kinh tế và khả năng tiếp thu công nghệ mới. Việc thiếu lao động có tay nghề cũng khiến các trang trại khó mở rộng quy mô và chuyên môn hóa sản xuất. Do đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ cấp bách để thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.

III. Giải pháp cốt lõi phát triển kinh tế trang trại Quảng Nam

Từ việc phân tích thực trạng và nguyên nhân, luận văn đề xuất một hệ thống các giải pháp phát triển kinh tế trang trại một cách toàn diện và đồng bộ. Nhóm giải pháp trọng tâm tập trung vào việc gia tăng các yếu tố nguồn lực, coi đây là nền tảng để nâng cao năng lực sản xuất. Cụ thể, cần có những đột phá trong chính sách hỗ trợ nông nghiệp, đặc biệt là chính sách đất đai nhằm tạo điều kiện cho việc tích tụ, tập trung ruộng đất, hình thành các trang trại quy mô lớn. Vấn đề vốn được xem là "nút thắt" cần được tháo gỡ thông qua việc đa dạng hóa các kênh huy động, tạo điều kiện cho các chủ trang trại tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi. Bên cạnh đó, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động nông thôn thông qua đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật được đặc biệt chú trọng. Luận văn khẳng định rằng, việc đầu tư vào con người chính là đầu tư cho sự phát triển nông nghiệp bền vững. Cuối cùng, việc đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học công nghệ được xác định là đòn bẩy để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho các mô hình trang trại.

1.1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp về đất đai và vốn

Luận văn đề xuất Nhà nước cần rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ nông nghiệp. Về đất đai, cần đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời có cơ chế khuyến khích dồn điền đổi thửa, cho thuê, chuyển nhượng quyền sử dụng đất để tạo ra những vùng sản xuất tập trung. Về vốn, cần đơn giản hóa thủ tục vay vốn tại các ngân hàng, đặc biệt là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ngoài ra, cần hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển trang trại, khuyến khích các hình thức tín dụng liên kết, bảo lãnh tín chấp thông qua các hiệp hội, hợp tác xã. Một chính sách đất đai thông thoáng và cơ chế vốn linh hoạt sẽ là tiền đề quan trọng để các trang trại mở rộng quy mô và đầu tư chiều sâu.

1.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và lao động nông thôn

Để giải quyết vấn đề chất lượng lao động nông thôn, nghiên cứu đề nghị cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho cả chủ trang trại và người lao động. Nội dung đào tạo cần tập trung vào kỹ năng quản trị, kỹ thuật canh tác tiên tiến, kiến thức thị trường và an toàn vệ sinh thực phẩm. Các trung tâm khuyến nông, trường dạy nghề cần phối hợp chặt chẽ với địa phương để mở các lớp tập huấn ngắn hạn, dài hạn ngay tại cơ sở. Việc xây dựng đội ngũ lao động nông nghiệp chuyên nghiệp, có tác phong công nghiệp là yếu tố quyết định sự thành công của quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và nâng cao hiệu quả kinh tế.

IV. Phương pháp tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Nam

Bên cạnh các giải pháp về nguồn lực, luận văn đặc biệt nhấn mạnh các phương pháp mang tính chiến lược nhằm tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn và bền vững. Trọng tâm là việc tăng cường các mối liên kết, đặc biệt là mô hình liên kết “bốn nhà” (Nhà nông – Nhà nước – Nhà khoa học – Nhà doanh nghiệp). Mối liên kết này giúp giải quyết các vấn đề từ khâu sản xuất đến chế biến và tiêu thụ, hình thành nên các chuỗi giá trị nông sản hoàn chỉnh và hiệu quả. Việc phát triển và nhân rộng các mô hình trang trại tổng hợp tiên tiến, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và mang lại hiệu quả kinh tế cao cũng là một định hướng quan trọng. Đồng thời, công tác marketing, xây dựng thương hiệu cho nông sản Quảng Nam và chủ động tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ được xem là khâu đột phá. Thay vì sản xuất những gì mình có, các trang trại cần chuyển sang sản xuất những gì thị trường cần, từ đó nâng cao giá trị gia tăng và đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững.

4.1. Xây dựng chuỗi giá trị nông sản và mô hình liên kết bốn nhà

Để khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, luận văn đề cao vai trò của liên kết. Việc hình thành các chuỗi giá trị nông sản từ đầu vào đến đầu ra là tất yếu. Trong đó, mô hình liên kết “bốn nhà” giữ vai trò hạt nhân, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa các bên liên quan. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và chính sách, nhà khoa học cung cấp giống và công nghệ, doanh nghiệp đảm bảo chế biến và tiêu thụ, còn nông dân (chủ trang trại) tổ chức sản xuất hiệu quả. Sự hợp tác này giúp giảm chi phí, giảm thiểu rủi ro, ổn định đầu ra và nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo nền tảng cho phát triển nông nghiệp bền vững.

4.2. Nhân rộng các mô hình trang trại tổng hợp hiệu quả cao

Nghiên cứu khuyến khích việc nhân rộng các mô hình trang trại tổng hợp đã được chứng minh là thành công trong thực tiễn. Các mô hình này thường kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp với lâm nghiệp hoặc du lịch sinh thái (agritourism). Ưu điểm của mô hình tổng hợp là tận dụng được các phụ phẩm nông nghiệp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường (ví dụ: mô hình VAC, VACR), đa dạng hóa sản phẩm và nguồn thu, từ đó giảm rủi ro thị trường. Chính quyền địa phương cần có chính sách khuyến khích, hỗ trợ và tổ chức các buổi tham quan, học tập kinh nghiệm để các mô hình này được lan tỏa rộng rãi, góp phần vào công cuộc xây dựng nông thôn mới.

V. Hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững tại Quảng Nam

Mục tiêu cuối cùng của các giải pháp là hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững và toàn diện tại Quảng Nam. Luận văn sử dụng công cụ phân tích SWOT để tổng hợp các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, từ đó đưa ra các định hướng chiến lược phù hợp. Phát triển kinh tế trang trại được xác định là động lực quan trọng, không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường. Việc phát triển các trang trại nông lâm kết hợp giúp tăng độ che phủ rừng, bảo vệ đất đai, nguồn nước, góp phần vào lâm nghiệp bền vững. Hơn nữa, sự thành công của các trang trại sẽ tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo và là hạt nhân tiêu biểu trong chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Đây là con đường tất yếu để nông nghiệp Quảng Nam hội nhập và phát triển trong bối cảnh mới, đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

5.1. Phân tích SWOT và tiềm năng phát triển kinh tế trang trại

Thông qua phân tích SWOT, luận văn chỉ ra tiềm năng to lớn cho phát triển kinh tế trang trại tại Quảng Nam. Điểm mạnh là quỹ đất lớn và nguồn lao động dồi dào. Cơ hội đến từ nhu cầu thị trường ngày càng tăng đối với nông sản sạch và sự quan tâm của Nhà nước thông qua các chính sách hỗ trợ nông nghiệp. Tuy nhiên, thách thức từ biến đổi khí hậu, năng lực cạnh tranh thấp và cơ sở hạ tầng yếu kém là không nhỏ. Từ đó, chiến lược đề xuất là phát huy điểm mạnh, tận dụng cơ hội, đồng thời có giải pháp khắc phục điểm yếu và vượt qua thách thức, tập trung vào các sản phẩm chủ lực có lợi thế cạnh tranh.

5.2. Đóng góp vào chương trình xây dựng nông thôn mới hiệu quả

Phát triển kinh tế trang trại là một nội dung cốt lõi của chương trình xây dựng nông thôn mới. Các trang trại không chỉ là đơn vị sản xuất kinh doanh hiệu quả mà còn là mô hình kiểu mẫu về tổ chức sản xuất, ứng dụng công nghệ và bảo vệ môi trường. Sự phát triển của các trang trại giúp chuyển dịch cơ cấu lao động, hình thành tầng lớp nông dân chuyên nghiệp, làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn. Luận văn khẳng định, "phát triển KTTT góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt xã hội ở nông thôn nước ta".

5.3. Thúc đẩy lâm nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường sống

Đối với lĩnh vực lâm nghiệp, phát triển trang trại trồng rừng kinh tế, trồng cây dược liệu dưới tán rừng là hướng đi chiến lược. Mô hình này không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và phát triển vốn rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc. Đây chính là biểu hiện cụ thể của lâm nghiệp bền vững. Các chủ trang trại, với lợi ích gắn liền với đất đai, sẽ có ý thức cao hơn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái. Việc áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến, xử lý chất thải hợp lý trong các trang trại cũng giúp giảm thiểu ô nhiễm, tạo ra một môi trường sống trong lành hơn cho cộng đồng.

19/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIEN KINH TE TRANG TRẠI 1. Tổng quan về kinh tế trang trại 1. Một số khái niệm a. Khái niệm về trang trại, kinh tế trang trại Xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta là một xu thế có tính quy luật, xu thế đó tác động đến mọi tằng lớp dân cư, trong đó có lực lượng sản xuất nông nghiệp, từ đó làm nẩy sinh một hình thức sản xuất mới ở nông thôn, đó là hình thức trang trại.

Trên thế giới người ta thường dùng các thuật ngữ: Feme (Tiếng Pháp), Farm (tiếng Anh) v-v., thường được dịch sang tiếng VỆt là trang trại, là cơ sở sản xuất nông nghiệp gắn với hộ gia đình của người nông dân, gắn với ruộng đất, với đất đai nói chung. Trang trai là đơn vị cơ sở sản xuất của hộ gia đình nông dân, được hình thành và phát triển từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thay thế dần phương thức sản xuất phong kÉn. Trang trại được hình (hành từ cơ cở của các hộ tiểu nông sau khi phá bỏ hình thức sản xuất tự cấp, tự túc vươn lên sản xuất nhiều nông sản hàng hóa tiếp cận với thị trường và từng bước thích nghỉ với nền kinh É cạnh tranh. Cóý kiến cho rằng: “Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở của nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng.

hóa; tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập; sản xuất được tiền hành trên quy mô tương đối lớn; với cách thức tô chức. quản lí, trình độ tổ chức quản lí tiến bộ và trình độ kĩ thuật cao; hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [1§] Một ý kiến khác: “Trang trại là đơn vị sản xuất cơ bản của nền nông nghiệp hàng hóa được tô chức trên nguyên tắc tập trung và chuyên môn hóa lao động cao, tích tụ ruộng đất và tập trung vón lớn vào một hay một số chủ thể kinh doanh ở một quy mô nhất định nhằm đạt sản lượng sản phẩm lớn, với tỉ suất hàng hóa cao” [10] Còn rất nhiều tác giả ở các góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về trang trại, nhưng tựu chung theo tôi th: Trang đại là một hình thức tỗ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp ở mức cao hơn kinh tế hộ gia đình về quy mô, lẫn hình thức quản ý. Hơn nữa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác ở các hộ gia đình thì mục đích chủ yếu tự sản xuất tự tiêu thụ, nhưng mục đích của người chủ trang trại lại chủ yếuR sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thị trường, có quan hệ chặt chẽ và phản ứng nhanh nhạy với thị trường Còn một phần nhỏ sản phẩm làm ra phục vụ ngược trở lại cho sản xuất và tiêu dùng. Nhu vậy trang trai chỉ là một hình thức tô chức sản xuất cụ thể của nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp.

KTTT là một khái iệm không còn mới với các nước kinh tế phát triển và đang phát trí Song đối với nước ta đang còn là một vấn đề mới, do nước ta mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên việc nhận thức chưa đầy đủ về KTTT là điều không thể tránh khỏi. Thời gian qua các lý luận về KTTT đã được các nhà khoa học trao đổi trên các diễn đàn và các phương tiện thông tín đại chúng. Song cho tới nay ở mỗi quốc gia, mỗi vùng khác nhau các nhà khoa học lại đưa ra các khái niệm khác nhau về KTTT. Hiện nay ở nước ta có nhiều khái niệm khác nhau về KTTT Thứ nhất: “KTTT là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp trực tiếp tô chức sản xuất ra nông sản hàng hóa dựa tiên cơ sở hiệp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trai dau tr vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hét sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị tường.

được Nhà nước bảo hộ theo luậtđịnh” [15] Thứ hai: “KTTT vớicác hình thức sở hữu khác nhau (Nhà nước, tập ể, tư nhân) được phát triển chủ yếu để trồng cây dài ngày, chăn môi đại gia súc ở những nơi có nhiều ruộng đắt, khuyến khích việc khai phá đắt hoang vào mục đích này” [§] Thứ ba: “KTTT là hình thức Ô chức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn môi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản”. [3] Từ các quan điểm trên đây tác giả luận văn rút m khái niệm chung về KTTT như sau: KTTT là hình thức tổ chức sản xuất trong Nông~ Lâm - Ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đắt và các yếu sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tô chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường. Phân tích khái niệm này ta thấy: ~ Về mặt hình thức thì KTTT là một hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệ ~ Về nội dung thì KTTT là đơn vị sản xuất hàng hóa gắn với thị trường. - Vé quy mô sản xuất thì KTTT có quy mô sản xuất lớn thể hiện qua việc đầu tư vốn, lao động, dat dai,.

- Về ính chất chuyên môn hóa sản xuất thì KTTT có tính chuyên môn hóa cao, quản lí tiến bộ và áp dụng kĩ thuật cao nên sản xuất được sản lượng. hàng hóa lớn ~ Về chủ thê tham gia thì KTTT có sự tham gia của nhều hình thức sở hữu, nhưng chủ yếu vẫn là hộ gia đình. Khải niệm phát triển kinh tế trang trại ~ Tăng trưởng kinh ÉÉ Theo lí thuyết của Kinh tế phát triển thì: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản thu nhập của nên kinh tế trong một thời kỳ nhất định thường là một năm [I2] Ở góc độ nền kinh tế quốc dân thì: “Tăng trưởng kinh tế do lường kết quả sản xuất xã hội hằng năm, và người ta thường sử dụng hai chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: Tổng sản phẩm quốc dân (GNP - Gross National Product), téng sản phâm quốc nội (GDP - Gross Domestic Product). Cac chi tiéu nay phan ánh mức tăng trưởng sản xuất hàng hóa và dịch vụ của mỗi quốc gia trong một giai đoạn nào đó được biểu hiện bằng chỉ số % (thường là một năm)” [6] ~ Phát triển kinh tế Có một ý kiến cho rằng: “Phát trên kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế.

Phát trên kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện hai vấn đề kinh tế va xã hội ở mỗi quốc gia” [12]. Nhu vay, phat triển kinh tế bao gồm các nội dung cơ bản: + Một là, sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền knh tế và mức thu nhập bình quân đầu người. Đây tiêu thức thể hiện quá trình biến đôi về lượng của nền kinh tế - xã hội. Nó là điểu kiện cần để nâng cao mức sống vật chất cho nhân dân trong một quốc gia.

+ Hai là, sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Đây là tiêu chí phản ánh sự thay đổi về mặt chất của xã hội như việc xóa đói giảm nghèo, gảm tỉ lệ suy dinh dưỡng, tăng tuổi thọ bình quân, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nước sạch, trình độ giáo dục, + Ba là, sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu nền kh tế. Đây là tiêu thức phản ánh sự biến đổi về chất của nền kinh tế. ~ Phát triển kinh tế trang trại Có một quan điểm cho rằng: “Phát triển KTTT là việc gia tăng mức độ đóng góp về giá tri sản lượng hàng hóa nông sản của các trang trại cho nền kinh tế, đồng thời phát huy vai trò tiên phong của nó trong việc thie day ting trưởng, giải quyết việc làm ở khu vực nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại gắn với yêu cầu bền vững” [6].

Từ những lí luận trên, theo tác giả luận văn thì: Phát triển KTTT là việc khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đắt đai, vốn, lao động, kĩ thuật, kinh nghiệm quản lí góp phẩn phát triển nông nghiệp; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới gầu đẹp. Đặc trưng của kinh tế trang trại Một là: Mục đích chủ yếu của KTTT là sản xuất nông sản phẩm hàng hoá theo nhu cầu thị trường. Hai là: Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập. Ba là: Trong các trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là mộng đất được tập trung tới quy mô nhấtđịnh theo yêu cầu pháttriển của sản xuất hàng hoá.

Bốn là: KTTT có cách thức tô chức và quản lý sản xuất tiến bộ hơn kinh tế hộ gia đình, dựa trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, thực hiện hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyên tiếp cận thị trường. Năm là: Chủ trang trại là người có ý chi, có năng lực tổ chức quản ý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất, đồng thờiø hiểu biết nhất định về kinh doanh. Sáu l: Các trang trại đều có thuê mướn lao động. Tiêu chí xác định kinh tẾ trang trại Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trồng thuỷ sản được xác định là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí định kượng sau đây: *(1)-Giá trị sản lượng hàng hóa dịch vụ bình quân một năm - Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải mién Trung tir 40 trêu đồng trở lên.

- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên. (2}- Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh t.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ