Chương 1. Một số vấn đề lý luận về thu hút vốn đầu tư vào KKT Chương 2. Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi Chương 3. Một số giải pháp thu hút vốn đầu tư vào KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi.
Chuong 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE THU HUT VON BAU TU" VAO KHU KINH TE 1. KHU KINH TẾ 1. Khái niệm KKT là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt, với môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và bình đẳng bao gồm: các khu chức năng, các công trình hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các công trình dịch vụ và tiện ích công cộng với các chính sách ưu đãi, khuyến khích, ổn định lâu dài và cơ chế quản lý thông thoáng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ [10, tr6] 1. Đặc điểm Thứ nhất, về không gian thành lập KKT được thành lập trên cơ sở diện tích đất tự nhiên rộng lớn, có tính đặc biệt về điều kiệ: tự nhiên, vị trí địa lí kinh tế thuận lợi.
Thứ hai, về quy hoạch tổng thé KKT được chia thành hai khu vực chính: Khu thuế quan và khu phi thuế quan. + Khu phi thuế quan (khu bảo thuế trong một số KKT đã được thành. lập) là khu có ranh giới địa lí xác định, được ngăn cách bằng hàng rào cứng với khu vực xung quanh, không có dân sư sinh sống. Các hoạt động trong khu phi thuế quan, bao gồm: sản xuất hàng xuất khẩu và hàng phục vụ tại chỗ, thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ.
xúc tiến thương mại và các hoạt động thương mại khác. Quan hệ trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa khu phi thuế quan với nước ngoài, giữa các doanh nghiệp trong khu phi thuế quan với nhau được xem như quan hệ trao đổi giữa nước ngoài với nước ngoài. Hàng hóa từ nước ngoài nhập khẩu vào khu phi thuế quan hoặc từ khu phi thuế quan xuất khẩu ra nước ngoài không thuộc diện phải nộp thuế xuất khảu, nhập khẩu. + Khu thuế quan là khu vực còn lại của KKT, ngoài phạm vi khu phi thuế quan.
Trong khu thế quan có khu Công nghiệp, khu chế xuất, khu giải tri đặc biệt, khu du lịch, khu dân cư và hành chính. Hàng hóa ra vào khu thuế quan thuộc khu vực kinh tế phải tuân thủ quy định của pháp luật về mặt hàng, thuế xuất nhập khâu, nhưng được áp dụng những thủ tục hải quan thuận lợi. Hàng hóa được tự do lưu thông giữa khu thuế quan và nội địa. Thứ ba, về lĩnh vực đầu tư KKT cho phép đầu tư đa ngành, đa lĩnh vực, nhưng có mục tiêu trọng.
tâm phù hợp từng KKT được thành lập ở mỗi địa bàn khác nhau [10, tr. Các loại hình KKT 1. Đặc khu kinh tế ĐKKT là một bộ phận của quốc gia được Quốc hội chấp thuận và do. Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, có không gian kinh tế - xã hội riêng biệt, được vận hành bởi khung pháp lý riêng, thích hợp cho phát triển theo cơ chế thị trường phù hợp với thông lệ quốc tế.
ĐKKT là mô hình đặc thù của chính sách mở cửa nền kinh tế Trung Quốc. Về cơ bản, mô hình ĐKKT có những đặc điểm sau: - Quản lý nhà nước đối với hoạt động của ĐKKT theo cơ chế một cửa và mở, được Quốc hội và Trung ương trao quyền quản lý rộng. ~ Có khung pháp lý riêng mang tính đặc thù khác với nội - Ngành nghề hoạt động đa dạng. ~ Có dân cư sinh sống và hình thành các thị trường như: thị trường chứng khoán, thị trường bắt động sản,.
~ Không qui định thời gian hoạt động của các doanh nghiệp. ~ Các doanh nghiệp hoạt động trong ĐKKT được hưởng chính sách ưu đãi đặc biệt hạn chế đến mức tối đa sự can thiệp của nhà nước trung ương đến hoạt động kinh tế [10]. Khu kinh tế ven biễn Khu kinh tế ven biển là khu kinh tế tổng hợp hay khu kinh tế chuyên ngành gắn với cảng biển, có tiềm năng kinh tế lớn, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. KKT ven biển có những đặc trưng sau: - Là khu vực có vị trí địa lý thuận lợi cho giao thương với các khu vực.
khác và hội tụ được nhiều yếu tố phát triển cơ bản. ~ Môi trường đầu tư, kinh doanh, buôn bán trong KKT phù hợp với cơ: chế thị trường, được hưởng qui chế ưu đãi hơn các vùng khác. - Giao lưu kinh tế giữa KKT với nước ngoài thông thoáng, ưu tiên hướng xuất khẩu, thu hút với iu tư nước ngoài [10] 1. Khu kinh tế cửa khẩu KKT cửa khẩu là KKT có không gian kinh tế xác định, gắn với cửa.
khẩu quốc tế hay cửa khẩu chính của quốc gia, có dân cư sinh sống và được áp dụng những cơ ché, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất dựa trên việc qui hoạch, khai thác, sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập. KKT cửa khâu có những đặc trưng sau: - Cách xa trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của đất nước. - Dân cư tại các khu kinh tế cửa khẩu với dân cư địa phương lân cận của các nước láng giềng có sự tương đồng nhau về văn hoá, truyền thống, tín ngưỡng tôn giáo, - Có sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế - xã hội - môi trường và chất lượng cuộc sống. - Hợp tác và cạnh tranh là đặc trưng chủ yếu.
- Hợp tác và giao lưu kinh tế dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của nhau, bình đằng các bên cùng có lợi [10]. THU HUT VON BAU TU VAO KHU KINH TẾ 1. Vốn đầu tư và phân loại vốn đầu tư 1. Khái niệm vốn đầu tr Vốn là yếu tố sản xuất cơ bản không thẻ thiếu được của mọi quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời n cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của nhiều nước khác nhau, nhất là các nước đang phát triển [9] Nhà kinh lọc người Mỹ, Paul A.Samuelson bàn về vốn và tích lũy vốn trong nền kinh tế đã Hàng tư bản do bản thân hệ thống kinh tế sản xuất ra để được sử dụng làm đầu vào của sản xuất để làm ra hàng hóa và dịch vụ.
Các hàng tư bản lâu bền này vừa là đầu ra, vừa là đầu vào, có thế tồn tại một thời gian dài hoặc một thời gian ngắn. Chúng có thể được cho thuê trên thị trường có tính cạnh tranh như cho thuê những mẫu (acre) đất hoặc những giờ lao động. trả cho việc sử dụng tạm thời, những hàng tư bản gọi là tiền cho thuê (rentals) (gọi như vậy để tránh nhằm lẫn với bên thuê đất (rent) có mức cung có định). Đồng thời ông cũng cho rằng thực chất của tích lũy: "Chúng ta thường chịu bỏ tiêu dùng hiện nay để tăng tiêu dùng trong tương lai.
Bắt cá ít đi hôm nay dành cho lao động làm lưới để bắt được nhiều cá hơn ngày mai. Nhu vậy xã hội đầu tư, hay nhịn tiêu dùng hiện tại, mà chờ đề thu được kết quả hoặc lợi tức do đầu tư đó tạo ra. Với nghĩa chung nhất, thu hoạch này - nhịn tiêu dùng hiện tại để có tiêu dùng trong tương lai nhiều hơn - là lợi tức của tu ban". Các nhà kinh tế học phát triển cho rằng nhân dân ở các nước đang phát triển cần tiết kiệm nhiều hơn nữa để tăng nguồn vốn dau tư, vốn bằng tiền có ý nghĩa lớn đối với từng doanh nghiệp, có thể đầu tư vào các cơ hội có khả năng sinh lợi.
Từ những quan niệm trên, có thể rút ra: - Vốn phải được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế khi được đưa vào chu chuyến. Nó không chỉ bao gồm tiền tệ, máy móc, vật tư, lao động, tài nguyên, đất đai. mà còn bao gom giá trị của những tài sản vô hình như vị trí của đất đai, các thành tựu khoa học và công nghệ, bản quyi - Vốn hiểu theo nghĩa trực tiếp là phần giá trị tài sản quốc gia được tích luỹ dưới dạng tiền và giá trị của tài sản hữu hình và vô hình nhằm mục. đích sinh lợi, được chuyển đồi thông qua các hoạt động đầu tư thành những tư liệu sản xuất và các phương tiện sản xuất cần thiết khác để sử dụng vào quả trình đầu tư cho nền kinh tế.
- Vốn đầu tư là tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh. doanh, là tiền tiết kiệm của dân cư và huy động từ các nguồn vốn trong và ngoài nước đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong nên kinh tế quốc dân. - Vốn là tổng thể những yếu tố cấu thành quá trình sản xuất kinh doanh bao gồm vốn tiền tệ, giá trị của các dạng của cải, vốn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, bản quyền kinh doanh, phát minh sáng chế,. trong đó vốn tiền tệ là điểm xuất phát để chuyên hóa thành các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế.
Trong nên kinh tế thị trường, vốn được xem là yếu tố quan trọng nhất của mọi quá trình đầu tư, kinh doanh. Tiếp cận theo quan điểm kinh tế thị trường, vốn đầu tư được hiểu là giá trị của những tài sản mà một cá nhân, một công ty hoặc Nhà nước bỏ vào các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời trong tương lai. Quan niệm đúng đắn về vốn có ý nghĩa rất lớn, nó giúp cho chúng ta nhận biết những đặc điểm, vai trò của mỗi loại vốn, từ đó có các phương thức khai thác, huy động thích hợp và sử dụng hợp lý, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Phân loại vốn đầu tr a.
Theo hình thái biểu hiện 'Vốn đầu tư được chia làm hai loại sau: ~ Vốn hữu hình: Gồm giá trị của các tài sản hữu hình như máy móc thiết bị, nhà xưởng, vật kiến trúc, các tư liệu sản xuất khác, tiền tệ các loại, vàng bạc, đá quý kim khí quý, các loại trái phiếu, cỗ phi ~ Vốn vô hình: Bao gồm giá trị của các tài sản vô hình như vị trí của đất đai, phát minh, sáng chế, nhãn hiệu, bản quyền.