CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIÊU THỊ. Tổng quan về chiêu thị. Khái niệm về chiêu thị. Có nhiều định nghĩa khác nhau về chiêu thị, theo Philip Kotler và Amstrong (2012) cho rằng “Toàn bộ hoạt động chiêu thị của một công ty, còn được gọi là tổ hợp truyền thông marketing - là sự pha trộn đặc thù của quảng cáo, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân, khuyến mãi và các công cụ marketing trực tiếp mà công ty sử dụng để truyền tải một giá trị khách hàng sao cho thuyết phục và xây dựng quan hệ khách hàng”.
Theo Solomon (2010): Một kế hoạch chiêu thị hỗn hợp được cấu thành bởi các yếu tố gồm Quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân và bán hàng trực tiếp. Mỗi một yếu tố của chiêu thị hỗn hợp có vai trò, lợi ích và công dụng riêng biệt. Thách thức của chiêu thị ngày nay là kết hợp chúng một cách hiệu ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU quả để đạt được các mục tiêu truyền thông và cuối cùng là có được mối quan hệ có lợi nhuận lâu dài với công chúng mà doanh nghiệp hướng đến. Chiêu thị là một liên kết truyền thông giữa người bán và người mua với mục đích truyền tải thông tin, tác động và thuyết phục khách hàng tiềm năng ra quyết định mua hàng.
Chiêu thị hỗn hợp hướng tới việc xác định bao nhiêu sự quan tâm của khách hàng tới từng danh mục sản phẩm và sự phân bổ ngân sách dành cho từng danh mục sản phẩm. Một kế hoạch chiêu thị có thể bao gồm nhiều mục tiêu mở rộng như tăng doanh thu, xây dựng giá trị thương hiệu, chấp nhận sản phẩm mới, tạo ra sự cân bằng về thương hiệu, định vị sự cạnh tranh và tạo dựng hình ảnh công ty. Thông qua hoạt động chiêu thị, tổ chức có thể thuyết phục và nhắc nhở thị trường về sản phẩm và tổ chức sở hữu nó, với hy vọng ảnh hưởng đến cảm xúc của người nhận, củng cố niềm tin tiêu dùng, hướng đến việc tạo nên nhu cầu tiêu dùng (Amir Seid, 2012). Như vậy có thể cho rằng: một kế hoạch chiêu thị hỗn hợp được cấu thành bởi các yếu tố gồm Quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, bán hàng cá nhân và 6 bán hàng trực tiếp.
Mỗi một yếu tố của chiêu thị hỗn hợp có vai trò, lợi ích và công dụng riêng biệt. Vai trò của chiêu thị. Các công cụ cơ bản được sử dụng để đạt được mục tiêu truyền thông của tổ chức được gọi là phối thức chiêu thị: đó là quảng cáo, khuyến mãi, marketing trực tiếp, quan hệ công chúng và chào hàng cá nhân. Một phối thức chiêu thị thành công đòi hỏi doanh nghiệp biết cách kết hợp đúng đắn các kỹ thuật và công cụ truyền thông, xác định rõ vai trò và sự mở rộng các yếu tố này trong việc phối hợp, sử dụng chúng.
Để đạt được điều này, người chịu trách nhiệm về hoạt động chiêu thị của các công ty phải hiểu rõ vai trò của chiêu thị. Theo Qazi Muhammad Haris trong bài viết về chiêu thị và chiến lược của chiêu thị cho rằng: Thứ nhất, vai trò của chiêu thị đối với doanh nghiệp: Chiêu thị giúp gia tăng sự nhận diện thương hiệu, xây dựng hình ảnh tích ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU cực cho doanh nghiệp: Với sự trợ giúp từ những phương tiện truyền thông đa dạng như tivi, quảng cáo ngoài trời, đài phát thanh, báo địa phương, doanh nghiệp có thể mở rộng tầm ảnh hưởng thông qua việc cung cấp thông tin về thương hiệu và công ty. Qua đó giúp người tiêu dùng hiểu về sản phẩm, có thể tìm kiếm thông tin sản phẩm và ra quyết định mua hàng. Chiêu thị là công cụ cạnh tranh: Khách hàng có xu hướng tìm hiểu nhiều hơn về những công ty hay thương hiệu họ thường xuyên nhìn thấy, thường xuyên nghe thấy.
Đặc biệt với các công ty mới cần phải thực hiện nhiều hoạt động chiêu thị để thông báo cho khách hàng biết họ là ai và họ cung cấp những gì. Giới thiệu sản phẩm, doanh nghiệp, hỗ trợ chiến lược định vị: Tất cả doanh nghiệp thường sử dụng chiêu thị để cung cấp thông tin giới thiệu sản phẩm và thương hiệu của mình đến với khách hàng mục tiêu. Tạo sự thuận tiện cho phân phối, thiết lập quan hệ và khuyến khích trung gian phân phối: Chiêu thị không những giúp gia tăng nhu cầu từ khách hàng mà còn giúp cho các đại lý suy nghĩ hiệu quả hơn trong việc đẩy mạnh bán hàng. 7 Thứ hai, đối với người tiêu dùng: Cung cấp thông tin, kiến thức: Các hoạt động chiêu thị trực tiếp cung cấp thông tin về sản phẩm của mình, bên cạnh đó, để thuyết phục khách hàng ra quyết định mua hàng, doanh nghiệp phải cung cấp những kiến thức có lợi cho khách hàng để giúp khách hàng hiểu rõ về sản phẩm, việc này giúp khách hàng có thêm những kiến thức liên quan trong trong lĩnh vực mà doanh nghiệp đang phát triển.
Cung cấp lợi ích kinh tế: thông qua các hoạt động chiêu thị của doanh nghiệp, người tiêu dùng nhanh chóng có được những thông tin mong muốn về doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh, qua đó giúp khách hàng tiết kiệm chi phí, thời gian, công sức làm gia tăng lợi ích kinh tế cho người tiêu dùng. Đồng thời, chiêu thị tạo nên áp lực cạnh tranh trong ngành, buộc doanh nghiệp phải cải tiến các hoạt động marketing nhằm phục vụ cho người tiêu dùng tốt hơn. Thứ ba, đối với xã hội: ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU Chiêu thị có vai trò quan trọng trong xã hội để đưa xã hội hướng đến sự thịnh vượng và các hoạt động có lợi. Chiêu thị mang lại nhận thức cho mọi người trong xã hội về những điều mà họ không biết rõ về sự quan trọng của nó, như kiến thức có ích về sản phẩm, sức khỏe, giáo dục, nhân đạo.làm cho xã hội nâng cao nhận thức và được giáo dục tốt hơn.
Hỗ trợ các phương tiện truyền thông nâng cao chất lượng: Hoạt động chiêu thị góp phần làm cho ngành truyền thông phải luôn tìm ra những công nghệ, cách thức truyền thông mới nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Là yếu tố đánh giá sự năng động, phát triển của nền kinh tế: Khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên và nền kinh tế tăng trưởng sẽ là nơi sản sinh ra những hoạt động chiêu thị sáng tạo, độc đáo. Tạo động lực cạnh tranh, tạo ra việc làm trong những lĩnh vực như truyền hình, báo chí, quan hệ công chúng, sự kiện… tạo ra một động lực không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội. Chức năng của chiêu thị.
Đầu tiên, là chức năng thông tin- thuyết phục- nhắc nhở: + Thông báo/thông tin: hướng đến việc làm sao để khách tiềm năng phải biết một vài hoặc tất cả thông tin về sản phẩm. Một doanh nghiệp với một sản phẩm thực sự mới mẻ có thể không cần phải làm gì nhiều nhưng cần phải thông báo đến khách hàng về sản phẩm và cho họ thấy rằng sản phẩm đó đáp ứng được những nhu cầu của người tiêu dùng tốt hơn những sản phẩm cạnh tranh khác. + Thuyết phục: Khi đối thủ cạnh tranh tung ra thị trường những sản phẩm tương tự, khi đó doanh nghiệp không chỉ dừng ở việc thông báo đến khách hàng về những giá trị của sản phẩm mang lại mà còn phải thuyết phục khách hàng mua sản phẩm của mình. Mục tiêu thuyết phục có nghĩa là doanh nghiệp phải cố gắng phát triển để người tiêu dùng mua và sẽ tiếp tục mua sản phẩm của mình.
+ Nhắc nhở: Nếu khách hàng mục tiêu có một thái độ tích cực về sản phẩm của công ty thì có thể khẳng định rằng hoạt động chiêu thị đang đi đúng hướng, đây ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU là một mục tiêu rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Mặc dù khách hàng có thể bị thu hút và đã mua sản phẩm của doanh nghiệp nhưng họ vẫn tiếp tục là mục tiêu theo đuổi của đối thủ cạnh tranh. Hai là, chức năng khuyến khích người tiêu dùng, trung gian, nhân viên: Thông qua việc cung cấp thông tin về sản phẩm/dịch vụ, chiêu thị giúp khách hàng hiểu về sản phẩm và những lợi ích mà khách hàng nhận được, qua đó kích thích nhu cầu và thúc đẩy khách hàng thực hiện quyết định mua hàng. Đối với nhân viên, chiêu thị giúp chủ doanh nghiệp và nhân viên thấu hiểu nhau hơn, giúp nhân viên có thể phát huy hết năng lực của mình để đạt được mục tiêu trong quá trình thực hiện các hoạt động chiêu thị.
Đồng thời, làm gia tăng niềm tin của nhân viên và các đơn vị phân phối về sự phát triển và uy tín của tổ chức. Ba là, chức năng liên kết, tạo quan hệ giữa nhà sản xuất, nhà phân phối, người tiêu dùng và các nhóm công chúng: Nhà sản xuất, nhà phân phối, người tiêu dùng cuối cùng và các nhóm công chúng là những mắt xích quan trọng trong một 9 chuỗi cung ứng của một tổ chức. Việc đảm bảo thông tin được truyền tải một cách xuyên suốt, nhất quán từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng sẽ tạo nên một lợi thế cạnh tranh bền vững. Một chiến lược chiêu thị hiệu quả phải có sự tham gia và phối hợp giữa các mắt xích với nhau.
Các thành phần của chiêu thị. Khái niệm quảng cáo. Kotler và Armstrong (2012) cho rằng quảng cáo là mọi hình thức giới thiệu và quảng bá phi cá nhân về ý tưởng, sản phẩm, dịch vụ do một nhà tài trợ xác định chi trả. Quảng cáo giúp phân biệt sản phẩm của công ty và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh: đây là một chức năng rất quan trọng của quảng cáo, nghĩa là, xác định một sản phẩm và phân biệt nó với những sản phẩm khác.
Điều này tạo ra nhận thức về sản phẩm và tạo cơ sở cho người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm được quảng cáo. ĐH BÀ RỊA VŨNG TÀU Bên cạnh đó quảng cáo giúp truyền đạt thông tin sản phẩm, thúc đẩy việc sử dụng sản phẩm, thúc đẩy phân phối sản phẩm, tăng sự yêu thích thương hiệu và lòng trung thành, giảm chi phí bán hàng tổng thể và tạo ra những nhu cầu mới. Các hình thức quảng cáo. Quảng cáo có rất nhiều hình thức và cũng có rất nhiều cách thức phân loại các loại hình quảng cáo, về cơ bản quảng cáo gồm các hình thức sau: Quảng cáo truyền hình: là phương tiện tác động đến người tiêu dùng đa dạng và toàn diện nhất, bằng âm thanh, hình ảnh sống động.
Chi phí hình thức này thường là đắt nhất.