CHƯƠNG 1: CO SO LY LUAN VE CHI SO NET PROMOTER SCORE (NPS) VA LONG TRUNG THANH CUA KHACH HANG 1. Long trung thành của khách hàng 1. Định nghĩa về lòng trung thành của khách hàng Trước đây, khi khoa học về Marketing bắt đầu phát triển lòng trung thành được nhiều nhà nghiên cứu đồng nhất với trung thành hành vi. Theo Blackman và Crompton thì lòng trung thành đối với một sản phẩm hay dịch vụ được xem đơn giản là việc mua kiên định một thương hiệu trong cả thời gian.
Các nghiên cứu lòng trung thành thương hiệu sớm này đã đồng nhất lòng trung thành khách hàng trong hành vi mua công khai của họ. Tucker (1999) da tin tưởng rằng mức độ hành vi đủ khả năng nghiên cứu lòng trung thành thương hiệu của khách hàng: “Không có sự xem xét nào đã đưa ra suy nghĩ chủ đề gì hay tiếp tục việc gì trong hệ thần kinh trung ương của ông ta: Hành vi của ông ta biểu lộ đầy đủ trung thành thương hiệu là cái gì”. Đề hiểu sâu hơn về hành vi trung thành Jacoby và Chestnut đã khám phá các phương pháp hành vi và phân chia làm các nhóm: Nhóm đầu tiên giải thích lòng trung thành trên việc mua chuỗi chỉ tiết thương hiệu. Dựa trên các nghiên cứu của Brown (1952, 1953) về hành vi mua lặp lại của sản phẩm, dịch vụ.
Hai ông đã kết luận mặc dù lòng trung thành khác nhau giữa các sản phẩm khác biệt, khách hàng dường như giới hạn sự mua của họ với một vài thương hiệu, điều này biểu thị sự tồn tại của hành vi trung thành thương hiệu. Nhóm thứ hai định nghĩa lòng trung thành dựa trên “phần lớn của việc mua sắm hết lòng cho một thương hiệu đã đưa ra”. mặc dù họ cũng nhìn nhận hành vi mua sắm công khai của khách hàng. Nhóm thứ ba đã vận dụng các mô hình xác suất trình tự để phân tích hành vi mua sắm của khách hàng qua “một mô hình ngẫu nhiên đơn giản” và bảng dữ liệu để khám phá xác suất mua lặp lại và hành vi mua quen thuộc của khách hàng.
Từ kết quả có được Frank (1962) đã định nghĩa lòng trung thành là “mối quan hệ mua sắm thường xuyên một thương hiệu cụ thể từ một tập hợp các mua sắm trước”. Nhóm khác đã định nghĩa lòng trung thành bởi các biến số hành vi khác nhau (Prichard, Howard, & havitz, 1992). Từ các kết quả nghiên cứu trên có thể thấy rằng phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng trung thành hành vi của khách hành đối với 1 thương hiệu ưa thích thể hiện việc họ mua thương hiệu đó lặp đi lặp lại. Với phương pháp hành vi xem xét đáng kể các biến số như hành vi công khai của khách hàng.
nên de dang duoc duoc van dung. Tuy nhién, cac nghiên cứu này cũng có nhiều nhược điểm là khung lý thuyết suông cho việc nghiên cứu lòng trung thành khách hàng, vì hành vi của khách hàng trung thành độc lập với các hành vi mua công khai của họ. Jacoby (1971) đã nhấn mạnh, “hành vi mua lặp lại là cần thiết nhưng điều kiện không đủ cho sự trung thành thương hiệu”. Day (1969) lưu ý rằng mô hình hành vi không thê mô tả giữa “thật sự” hay trung thành có chủ ý và lòng trung thành “giả tạo”.
Vì phương pháp này dựa trên hành vi mua mà khách hàng báo cáo, không phân biệt giữa thật sự hay trung thành có chủ ý và trung thành giả tạo. Trong khi khách hàng với lòng trung thành thật sự là kiên định với một thương hiệu trong cả hành vi và thái độ, khách hàng với lòng trung thành giả tạo thiếu sự cam kết thật sự với thương hiệu. Day (1969) và Jacoby (1971) đã dé xuat ring thái độ sẽ được đề cập trong khái niệm của lòng trung thành đẻ hiểu tốt hơn về lòng trung thành khách hàng. Yếu tố thái độ trong sự trung thành của khách hàng đã được một số nhà nghiên cứu trước đây nhìn nhận.
Tuy nhiên lập luận của họ chưa đủ vừng chắc để bảo vệ quan điểm này như các nghiên cứu của Guest, Monroe và Guiltinan, Bennett va Kassarijia, Jain, Pinson, va Malhotra. Nghién ctru của các ông cho rằng trung thành của khách hàng biểu hiện ở thái độ trung thành của họ hay sự chú ý. Các nghiên cứu trên chỉ tập trung xem xét một mặt của lòng trung thành khách hàng nó không chỉ nông cạn và còn thiếu. Theo lJacoby và Chestnut (1978), không phải các hành vi mà cũng không phải chỉ mỗi một thái độ có thê giải thích lòng trung thành khách hàng.
Do đó ta cần xem xét kết hợp cả hai yếu tố hành vi và thái độ trong khái niệm về lòng trung thành khách hàng. - Hành vi trung thành Hành vi trung thành tập trung vào giá trị của khách hàng đối với nhãn hiéu (Schultz &Bailey 2000). Hành vi cấp 1 xảy ra khi khách hàng đã mua lại sản phẩm/dịch và hành vi cấp 2 nói đến sự sẵn lòng giới thiệu sản phẩm hoặc địch vụ cho người khac. Hay theo Yi (1990) thi hành vi trung thành bao gồm việc tiếp tục mua sản phẩm/dịch vụ của cùng một nhà cung cấp, tăng cường mối quan hệ và hành động giới thiệu cho người khác.
- Thái độ trung thành Thái độ đựơc định nghĩa là một chiều hướng tâm lý được thể hiện bởi việc đánh giá yếu tố đặc trưng với mức độ ủng hộ hoặc không ủng hộ (Eagly & Chaiken, 993). Thái độ bao gồm 3 thành phần: sự hiểu biết và niềm tin của khách hàng, sự cảm nhận hoặc đánh giá của khách hàng, định hướng đến hành động và sự thụ động của khách hàng. Thái độ trung thành biểu lộ sự cam kết và tận tâm với một thương hiệu/công ty và họ thực hiện hành vi mua lại dựa trên sự tự nguyên bên trong mạnh mẽ (Day, 1961). Thái độ trung thành bao gồm các thái độ ưa thích thương hiệu hơn các thương hiệu khác, ý định mua lại và cả khuynh hướng truyền miệng tích cực, sẵn sàng giới thiệu cho người khác(Zeithaml và cộng sự, 1996).
Lợi ích của lòng trung thành - Khách hàng trung thành là tài sản quý giá của các doanh nghiệp. Những nghiên cứu của Frederick Reichheld cho thấy nếu tăng số khách hàng trung thành 5% thì công ty có thê tăng tới 60% lợi nhuận. Trong khi đó cũng theo nghiên cứu của ông, chỉ phí để có được một khách hàng mới gấp tir 5 đến 7 lần so với duy trì được một khách hàng trung thành. - Khách hàng trung thành giúp công ty có được nguồn lợi nhuận ôn định lâu dài thông qua việc mua hàng lặp lại.
Không những thé, khi đã trung thành, khách hàng thường tăng lượng mua và rất dễ dàng trong việc mua thêm những mặt hàng, dịch vụ khác của công ty. - Đồng thời, khách hàng trung thành là những người mà các đối thủ cạnh tranh khó lôi kéo nhất. Những khách hàng đã trung thành với một thương hiệu cụ thể thường ít nhạy cảm với các kích thích của đối thủ cạnh tranh. Thậm chí nếu có thì thời gian tiếp nhận những kích thích cũng khá chậm, do vậy, các công ty có đủ thời gian dé gia tăng nỗ lực, làm bền chặt hơn mối quan hệ với khách hàng hiện có của mình.
Các đối thủ cạnh tranh, vì vậy ít được khuyến khích thu hút những khách hàng đã trung thành với thương hiệu khác. - Bên cạnh đó, khách hàng trung thành còn giúp công ty gia tăng lợi nhuận thông qua giảm chỉ phí như: chỉ phí về quảng cáo, tiếp cận, giới thiệu, xây dựng cơ sở dữ liệu mới, tìm hiểu hành vi mua, phục vụ. Đồng thời công ty còn tiết kiệm được thời gian giao dịch. Nhiều trường hợp.
do đã quen biết và trung thành, khách hàng không chỉ tự phục vụ mình mà còn giúp công ty phục vụ những khách hàng khác. Nghiên cứu của Frederick Reichheld cho thấy nếu tăng được 2% khách hàng trung thành, công ty có thể giảm được 10% chỉ phí hoạt động. - Lòng trung thành của khách hàng là đòn bây cho công ty. Khía cạnh này liên quan đến lợi ích của khách hàng trung thành trong việc giúp công ty phát triển hệ thống kênh phân phối.
Khi có những đòi hỏi, yêu cầu từ phía khách hàng, các trung gian phân phối sẽ năng động hơn trong việc phân phối sản phẩm và không cần nhiều hỗ trợ, kích thích từ nhà sản xuat. - Khách hàng trung thành có xu hướng ít nhạy cảm với giá (IO- ishnamurthi and Raj (1991). Khi công ty đã tạo được sợi dây liên kết giữa khách hàng và thương hiệu, họ chấp nhận trả một mức giá cao hơn để được tiêu dùng thương hiệu yêu thích và sự nhạy cảm với giá cũng được bỏ qua khi mối liên hệ ngày càng bền chặt và niềm tin được củng có thường xuyên. - Khách hàng trung thành có xu hướng chỉ chú ý đến thông tin tích cực và đễ lãng quên những thông tin tiêu cực về thương hiệu.
Trong một ngày, khách hàng phải tiếp xúc với nhiều thông tin khác nhau về thương hiệu, trong đó có cả tốt và xấu. Do đặc điểm nhận thức thông tin chỉnh đốn, khách hàng trung thành sẽ đễ dàng loại bỏ hay tìm những chứng cứ đề “biện minh” cho những thông tin không tốt, chính xu hướng này làm cho những khách hàng trung thành rất khó bị lôi kéo bởi đối thủ cạnh tranh (Henard 2002). - Ngoài ra, hơn bất cứ kênh nào khác, khách hàng trung thành là người quảng bá cho công ty tốt nhất và hiệu quả nhất. Họ hài lòng với hàng hóa, dịch vụ của công ty và sẽ chia sẻ điều đó với mọi người.
Họ sẽ nói về những kinh nghiệm tốt đẹp và khuyên mọi người nên sử dụng hàng hóa của công ty. bá tuyệt vời mà lại miễn phí. Các mô hình nghiên cứu lòng trung thành của khách hàng 1. Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (ACSI) ACSI - Mô hình chỉ số hài lòng của Mỹ được phát triển dựa trên mô hình của Thuy Sỹ.
ACSI được phát triển bởi Claus Fornell (Fornell và cộng sự, 1996) thuộc trung tâm nghiên cứu chất lượng quốc gia thuộc Đại học Michigan (trích “ Xây dựng mô hình lý thuyết và phương pháp đo lường về chi số hài lòng khách hàng ở Việt Nam” - Lê Văn Huy - Nguyễn Thị Hà My, khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng). Trong mô hình này tác động đến sự hài lòng của khách hàng còn có sự mong đợi. Trong khi đó sự mong đợi lại tác động trực tiếp đến lên chất lượng cảm nhận.