CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHI PHÍ 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ Hiện nay, định nghĩa về “Kiểm Soát Nội Bộ” được chấp nhận rộng rãi là của Coso (Committee Of Sponsoring Organization – Uỷ ban trực thuộc Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính). Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, Hội đồng quản trị và các nhân viên đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu: Báo cáo tin cậy Các luật lệ và quy định được tuân thủ Hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và bảo vệ được tài sản.
Khái niệm được hiểu như sau: Kiểm soát nội bộ là một quá trình: Tức khẳng định KSNB không phải là một sự kiện hay một tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện rộng khắp trong đơn vị. KSNB tỏ ra hiệu quả nhất khi nó được xây dựng như một phần cơ bản trong hoạt động của đơn vị, chứ không phải một sự bổ sung cho các hoạt động của đơn vị hoặc một ghánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính. Kiểm soát nội bộ bị chi phối bởi con người trong đơn vị (bao gồm người quản lý, HĐQT và các nhân viên). Con người đặt ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng.
Ngược lại, KSNB cũng tác động đến hành vi của con người. Mỗi cá nhân có một khả năng, suy nghĩ và ưu tiên khác nhau khi làm việc và họ không phải luôn luôn hiểu rõ nhiệm vụ của mình cũng như trao đổi và hành động một cách nhất quán. KSNB sẽ tạo e 7 ra ý thức kiểm soát ở mỗi cá nhân và hướng các hoạt động của họ đến mục tiêu chung của tổ chức Kiểm soát nội bộ chỉ có thể cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho ban giám đốc và nhà quản lý việc đạt được các mục tiêu của đơn vị. Điều này là do những hạn chế tiềm tàng trong Hệ thống KSNB như: sai lầm của con người, sự thông đồng của các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý và do mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí của việc thiết lập nên HTKSNB.
Trách nhiệm của nhà quản lý phải thiết lập và duy trì việc kiểm soát toàn diện đơn vị mình. Nhà quản lý còn chịu trách nhiệm trong việc trình bày BCTC phù hợp với nguyên tắc và chuẩn mực kế toán chung. Mục tiêu của kiểm soát nội bộ Mỗi đơn vị phải đặt ra mục tiêu mà mình cần đạt tới (mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị). Có thể chia các mục tiêu mà đơn vị thiết lập ra thành 3 nhóm sau đây: Nhóm mục tiêu về hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực.
Nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính: đơn vị phải đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính mà mình cung cấp. Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: đơn vị phải tuân thủ các luật lệ và quy định. Sự phân chia các nhóm mục tiêu như trên chỉ có tính tương đối vì một mục tiêu cụ thể có thể liên quan đến 2 hoặc 3 nhóm trên. Sự phân chia này chủ yếu dựa vào sự quan tâm của các nhóm đối tượng khác nhau đối với HTKSNB của đơn vị: nhóm mục tiêu về hoạt động xuất phát từ yêu cầu của đơn vị là chính; nhóm mục tiêu về báo cáo tài chính chủ yếu xuất phát từ yêu cầu của cổ đông, nhà đầu tư và chủ nợ; nhóm mục tiêu về sự tuân thủ xuất phát từ yêu cầu của các cơ quan quản lý.
Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ Có nhiều quan điểm khác nhau về các nhân tố cấu thành hệ thống KSNB, với đề tài nghiên cứu về hệ thống KSNB, tác giả sử dụng khuôn mẫu KSNB theo COSO 2013 làm để đưa ra các nhân tố cấu thành hệ thống KSNB. Theo báo cáo, COSO 2013 thì một hệ thống KSNB các đơn vị gồm có 5 “thành phần”: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát. Môi trườ ng kiể m soát Đánh giá Giám sát rủ i ro Hệ thố ng KSNB Hoạ t Thông đ ộ ng tin và kiể m truyề n soát thông Sơ đồ 1.1 Các bộ phần cấu thành Hệ thống KSNB theo COSO Các thành phần của hệ thống kiểm soát nội bộ được phát triển thành 17 nguyên tắc kiểm soát trong báo cáo COSO năm 2013 diễn giải cho những khái niệm cơ bản liên quan đến mỗi nhân tố cấu thành đó. Tất cả 17 nguyên tắc có thể áp dụng cho nhóm mục tiêu chung và cho cả những mục tiêu riêng e 9 lẻ bên trong mỗi hoạt động.
Các nội dung cơ bản của các bộ phận được tổng hợp thành 17 nguyên tắc nhằm giúp nhà quản lý dễ dàng hơn trong việc tổ chức và thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ a) Môi trường kiểm soát. Môi trường kiểm soát là tập hợp các tiêu chuẩn, các quy trình, và các cấu trúc làm cơ sở cho việc thực hiện kiểm soát nội bộ trong tổ chức. Hội đồng quản trị và quản lý cấp cao thiết lập sắc thái từ cấp trên liên quan đến tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ và những tiêu chuẩn về đạo đức được mong đợi. Chính vì thế môi trường kiểm soát tạo ra sắc thái chung của một tổ chức, chi phối đến ý thức kiểm soát của mọi người trong tổ chức, là nền tảng cho tất cả các bộ phận khác của KSNB nhằm xây dựng nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp.
Mội trường kiểm soát bao gồm nhận thức, thái độ và hành động của nhà quản lý trong đơn vị kiểm soát và tầm quan trọng kiểm soát. Môi trường kiểm soát có một ảnh hưởng quan trọng đến quá trình thực hiện kết quả của các thủ tục kiểm soát. Năm nguyên tắc liên quan đến môi trường kiểm soát được giới thiệu trong khuôn mẫu COSO 2013, bao gồm: Nguyên tắc 1: Đơn vị phải chứng tỏ sự cam kết về tính chính trực và giá trị đạo đức. Thiết lập phong cách điều hành của nhà quản trị ngay từ đầu và trong suốt quá trình quản lý: HĐQT và NQL, các cấp trong đơn vị thể hiện cam kết thông qua các chỉ thị, hành động và cách xử lý của họ, thể hiện tầm quan trọng của tính chính trực và giá trị đạo đức để hỗ trợ các chức năng của hệ thống KSNB.
Thiết lập các tiêu chuẩn đạo đức. Đánh giá tính tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức: các quy trình được thiết e 10 lập ra nhằm đánh giá việc thực hiện của các cá nhân theo tiêu chuẩn đạo đức của đơn vị. Thông báo các sai lệch một cách kịp thời: các sai lệch so với tiêu chuẩn đạo đức sẽ được xác định và khắc phục kịp thời và phù hợp. Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị phải chứng tỏ được sự độc lập với nhà quản lý và đảm nhiệm trách nhiệm giám sát việc thiết kế và vận hành kiểm soát nội bộ: Thiết lập trách nhiệm giám sát: HĐQT có trách nhiệm giám sát liên quan đến yêu cầu và kỳ vọng đã được thiết lập.
Áp dụng chuyên môn phù hợp: HĐQT xác định và đánh giá định kì những kiến thức và kỹ năng cần thiết giữa các thành viên của mình để có những hành động tương xứng cần thiết. Hoạt động độc lập: HĐQT phải có đủ các thành viên hoạt động độc lập và thể hiện khách quan để giám sát hoạt động của NQL Cung cấp sự giám sát đối với hệ thống KSNB: HĐQT hướng dẫn, chỉ đạo và đánh giá sự vận hàng của hệ thống KSNB. Nguyên tắc 3: Nhà quản lý dưới sự giám sát của HĐQT cần thiết lập cơ cấu tổ chức, trách nhiệm báo cáo, phân định quyền hạn và trách nhiệm nhằm đạt các mục tiêu của đơn vị. Xem xét tất cả các cơ cấu của đơn vị: NQL và HĐQT xem xét tất cả cơ cấu được sử dụng (bao gồm tất cả các đơn vị hoạt động, pháp nhân, và các nhà cung cấp dịch vụ bên ngoài) để hỗ trợ đạt các mục tiêu.
Thiết lập dòng báo cáo: NQL thiết lập và đánh giá các dòng báo cáo cho cơ cấu tổ chức để cho phép thực hiện các quyền và trách nhiệm, lưu chuyển thông tin để quản lý các hoạt động của đơn vị. Phân chia quyền hạn và trách nhiệm: NQL và HĐQT xác định và phân công quyền hạn và trách nhiệm cho phù hợp với các cấp khác nhau của tổ chức. e 11 Nguyên tắc 4: Đơn vị phải chứng tỏ cam kết trong việc thu hút, phát triển nguồn năng lực và duy trì việc sử dụng nhân viên nhằm đảm bảo năng lực phù hợp với từng mục tiêu đơn vị. Thiết lập chính sách và áp dụng vào thực tiễn: Chính sách và thực tiễn phản ánh mong đợi về năng lực cần thiết của nhân viên để hỗ trợ đạt các mục tiêu.
Thu hút, đào tạo và giữ nhân viên: Tổ chức cung cấp tư vấn và đào tạo cần thiết. Đánh giá năng lực và báo cáo những thiếu sót. Lập kế hoạch và chuẩn bị cho sự kế nhiệm. Nguyên tắc 5: Đơn vị cần yêu cầu các cá nhân chịu trách nhiệm báo cáo về trách nhiệm của họ trong việc đáp ứng các mục tiêu của tổ chức.
Thực thi trách nhiệm thông qua cơ cấu tổ chức, quyền hạn và trách nhiệm: NQL và HĐQT thiết lập cơ sở cơ chế để yêu cầu cá nhân chịu trách nhiệm về thực hiện trách nhiệm KSNB trong tổ chức và thực hiện khắc phục khi cần thiết. Thiết lập các biện pháp đo lường hiệu quả, khuyến khích và khen thưởng. Xem xét những áp lực quá mức. Đánh giá hiệu quả và khen thưởng hoặc kỷ luật nhân viên.
b) Đánh giá rủi ro. Mọi đơn vị, không phân biệt quy mô, cấu trúc, ngành nghề,.đều phải đối mặt với nhiều rủi ro từ các nguồn bên trong, bên ngoài, ở tất cả các cấp độ. Không có cách nào triệt tiêu rủi ro, vì vậy nhà quản lý phải quyết định một cách thận trọng mức rủi ro như thế nào có thể chấp nhận được và cố gắng duy trì rủi ro ở mức cho phép.Rủi ro được định nghĩa là khả năng một sự kiện sẽ xảy ra và ảnh hưởng xấu đến việc đạt các mục tiêu.