Chương 1 NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VE THƠ LỤC BÁT VIỆT NAM Văn học là hình thức nghệ thuật ngôn từ, thông qua thế giới nghệ thuật đó, mọi tâm tư, tình cảm của con người được chuyền tải một cách phong phú và sâu sắc nhất. Tuy nhiên thế giới nội cảm của con người không ngừng biến động, và ngày càng đa đạng, phức tạp, điều đó đòi hỏi phải có những thể loại văn học phù hợp thích ứng dé có thể diễn ta đấy đủ mọi cung bậc của thế giới nội tâm con người. Thể loại và các thé thơ Việt Nam 1. Một số quan niệm về thể loại thơ Là cụm từ được sử dụng khá rộng rãi và phô biến.
Tuy nhiên, tại Việt Nam vấn đề này vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi chưa tìm được tiếng nói chung, thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Chúng ta vẫn thường hiểu nôm na “thé” là hình thức tác phẩm, ta thường gọi thể một chữ, thể hai chữ v., hay thé thơ có van, thé thơ không vần. “Loại” rộng hơn thé, bao hàm ca thé. Loại được phân chia dựa trên cả tiêu chí nội dung và hình thức.
Do đó, trong quá trình sáng tác cũng như nghiên cứu một tác phẩm văn học, khi động chạm đến van dé thể, loại hay một kiểu lối thơ nào đó chúng ta thường sử dụng một cách trực quan như một thói quen cô hữu chứ không dựa trên một tiêu chí khoa học nao. Dan dan thói quen cô hữu đó ăn sâu, bám rễ vào trong tư tưởng mỗi chúng ta, đến mức ta chỉ sử dụng thậm chí nhiều khi ta không hiểu được sử dụng như vậy là hợp ly hay chưa. Sở di có thói quen như vậy là do một vai nguyên nhân khách quan sau: 13 Tìm hiểu một chút về lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam. Trong suốt hơn 1000 năm Bắc thuộc, chúng ta chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là trên phương diện văn chương cử tử.
Đề tuyên chọn người tài, người ta dựa vào chế độ khoa cử, các nhà nho Việt Nam muốn có được chỗ đứng vững chắc dưới bệ Rồng đều không ngừng rèn luyện tu dưỡng bản thân chốn cửa Không sân Trình theo học thuyết bất di bất dịch của ông tổ Nho gia — Khong Tử. Họ dựa vào những lý thuyết ran dạy lễ nghĩa, dùng văn chương dé “tải đạo”, lay văn chương làm vũ khí dé “di đưỡng tính tinh”. Tat cả các sáng tác đều phải tuân theo một chuẩn mực nhất định không những về tư tưởng mà về thé thơ cũng phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các thể với những niêm luật được định sẵn. Ngoài các thể cổ phong quen thuộc như: song điệp, vĩ tam thanh, thủ vĩ ngâm, hồi văn, yết hậu, liên hoàn v.; thơ Đường luật được sử dụng rộng rãi, phố biến trong suốt mười thế kỷ văn hoc Trung đại, trở thành chuẩn mực, thước đo để đánh giá tài năng thơ phú của Nho sĩ.
Trong suốt gần một thiên niên kỉ hệ thống thé loại này đã thống soái và chi phối nền văn học Việt Nam, và cho đến nay nó vẫn giữ được một vị trí quan trọng trong dòng chảy văn học nước ta. Sang đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp sang xâm lược đã thổi một luồng gió văn hóa mới vào nền Văn hóa nước ta, chúng ta được tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây, từ đó kéo theo rất nhiều thay đi trong văn chương cũng như trong tư tưởng của thế hệ văn sĩ mới. Một tầng lớp trí thức mới được du học, tiếp xúc với nền văn hóa mới đã có những sự cách tân mạnh mẽ trong cách nghĩ cũng như cách sống, họ tôn thờ “cái tự nhiên của con tâm” (Phan Khôi). Họ không ngừng phê phán thơ luật đã bó buộc cảm xúc, giam hãm sự but phá của tâm hồn, họ kêu gọi đổi mới trong tinh và hình thé loại, thối hôn vào câu thơ.
Thơ ca là ngôn ngữ diễn tả cảm xúc, tâm trạng một cách 14 hữu hiệu nhất, và hàng loạt các thé thơ ra đời kéo theo những quan niệm khác nhau về thé loại. Sự phức tạp trong quan niệm về thê và loại của thơ còn bắt nguồn từ sự phức tạp của thơ. Con người Việt Nam vốn yêu thơ, trân trọng thơ, coi thơ ca là tinh hoa là sự chat lọc những giá trị cao nhất của cuộc đời, thơ là nơi để con người giãi bày, chia sẻ với nhau những tâm tư, tình cảm, những kinh nghiệm sống. Tho là nơi neo đậu tâm hôn, là bến đỗ bình yên cho tâm hồn mỗi con người.
Khi vui nghĩ đến thơ, khi buồn người ta cũng nghĩ tới thơ, thơ là ngọn nguồn của những giá trị cao nhất trong trái tim đa cảm chất chứa yêu thương của mỗi con người. Thơ không phải là một giá trị bất biến, nó tồn tại vĩnh hang cùng với thời gian và luôn có sự vận động, biến thiên cùng với thế giới tâm trạng đầy phức tạp của mỗi chúng ta. Ở mỗi thời kì, mỗi giai đoạn chúng ta lại tìm đến với những quan niệm khác nhau về thơ. Thơ là “bà chúa nghệ thuật”, là “cái nhụy của cuộc sống” (Sóng Hồng), là “sự thé hiện con người và thời đại một cách cao đẹp”.
Nhà thơ như con ong hút nhụy từ những bông hoa của đời sống dé tạo thành mật ngọt dâng hiến cho đời. Nếu không có sự khổ luyện của con ong thì phấn hoa cũng không trở thành mật ngọt, cũng giống như nhà thơ nếu không có sự khổ công trau déi ngòi bút thì cũng không thé có được những bài thơ hay. Thơ thuộc phương thức trữ tình, nên thơ lấy điểm tựa ở sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ trước cuộc đời. Thơ thiên về thế giới nội cảm, là tiếng nói của tình cảm, là sự rung động của con người trước cuộc sống một cách chân tình, tự nhiên “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn” (Tố Hữu).
Sự phức tạp của thơ có cội rễ từ yếu tô tình cảm. Tinh cảm trong thơ nảy sinh từ những rung cảm trực tiếp của nhà thơ trước cuộc đời, có rung động mới có sự sáng tạo trong thơ, “thơ phát khởi từ trong lòng người ta” (Lê Quý Đôn). Ngô Thì Nhậm lại cho rằng, “Mây gió cỏ hoa xinh tươi kì diệu đến đâu hết thảy cũng đều từ trong lòng mà nảy ra.Hãy xúc 15 động hồn tho dé cho ngọn bút có thần”. Dù đông tây hay kim cô thì cũng đều thống nhất cho rằng, tình cảm là yếu tố quan trọng nhất trong thơ, sự phức tạp của tình cảm làm cho thế giới thơ ca thêm phong phú nhiều màu sắc, bởi “Tho là người thư kí trung thành của những trai tim” (Duy Belay), “Thơ là nhiệt tình kết tinh lại” (Anphret do Vinhi).
Những nguyên nhân mà chúng tôi vừa thống kê trên là dẫn chứng tiêu biểu, tích cực nhất dẫn tới những cách hiểu, sử dụng khác nhau về cụm từ “thé loại” tại Việt Nam. Dé luận văn mang tính logic, khoa học, đúng đắn, tránh những lệch lạc, thiếu sót khi nghiên cứu về phạm trù “thé loại” nói chung, thé lục bát nói riêng, chúng tôi điểm qua nguồn gốc của cụm từ và những vận dụng khoa học của giới nghiên cứu Việt Nam về cụm từ này trong tiễn trình lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam. “Thể loại” là một phạm trù mang tính hình thức. Đây có lẽ là thuật ngữ mà chúng ta du nhập từ Văn học Trung Quốc.Riftin đã đưa ra dẫn chứng rất thiết thực chứng minh: “Bản thân khái niệm “thé loại” trong khoa nghiên cứu Văn học Trung Quốc đương đại được truyền đạt qua từ thê tài, trong đó “thể” nghĩa đen là “thân thể”, “hình thức”.
Cùng với từ này người ta dùng các thuật ngữ khác như “văn thé” theo nghĩa đen là “thân thé văn học”, “hình thức văn học”. Những khái niệm này mới chỉ xuất hiện trong thế ki XX, nhưng bảo lưu trong chúng thành tố “thể” tức là “thân thể” vốn đã được sử dụng theo nghĩa đó từ thời viễn cổ” (52;24). Thông qua quá trình giao lưu văn hóa, văn học, cụm từ này được du nhập vào nền văn học Việt Nam và đến nay đã trở thành thuật ngữ quen thuộc trong khoa sáng tác và nghiên cứu văn học. Rất nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam đã coi đó là một khái nệm chuẩn mực va trong quá trình nghiên cứu đã chịu ảnh hưởng không ít.
Ta sẽ thấy rõ điều này qua một sô nghiên cứu của một sô học giả Việt Nam. 16 Theo Tir điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học — xuất bản năm 1998 thì: “thể” là “hình thức sáng tác thơ văn” (39;900), “loại” là “tập hợp người hoặc vật có chung những đặc trưng nào đó, phân biệt với những người khác, vật khác” (39;553); còn “thé loại” là “hình thức sáng tác văn học nghệ thuật chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngôn từ” (39;900). Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thê loại là một dang thức ton tại của tác phâm văn học, được hình thành và tồn tại tương đối 6n định trong quá trình phát triển của lịch sử văn hoc thé hiện ở sự giống nhau về cách thức tô chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tượng đời sống được miéu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” (17; 202 — 203). Mà thế giới đời sống của con người là một bức tranh muôn màu, muôn vẻ, dưới lăng kính của các nhà văn, nhà thơ nó được thu nhỏ, được phản ánh dưới các góc độ khác nhau, khi thì là viễn cảnh, khi thì là cận cảnh, “thể hiện những quan hệ thấm mĩ khác nhau đối với hiện thực” (17;203).
Tương ứng với nó là “những hoạt động nhận thức khác nhau của con người, hoặc là trầm tư, chiêm nghiệm, hoặc qua các biến cố liên tục, hoặc qua xung đột.” (17;203), cũng có khi là sôi nồi, hoạt bát hoặc qua các biến cố, xung đột liên tục tiếp diễn. Sự thống nhất giữa đối tượng tiếp nhận và đối tượng truyền tải thông tin về cùng một đối tượng khác nhau đã tạo nên “sự thống nhất quy định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng và các hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn” (17;203). Tuy nhiên, “thé loại” là một phạm trù vừa mới, vừa cũ, không bat biến mà trái lại nó luôn vận động biến đổi trong sự ồn định nhằm phản ánh những khuynh hướng phát triển của văn học. “Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hướng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học; và các thể loại văn học tồn tai là để gìn giữ, đổi mới thường xuyên các khuynh hướng ấy.