phần mở đầu, kết luận, phụ lục luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan về truyền thuyết dân gian Bắc Giang - Chƣơng 2: Truyền thuyết dân gian Bắc Giang nhìn từ đặc trƣng thể loại - Chƣơng 3: Truyền thuyết dân gian Bắc Giang trong không gian văn hóa Bắc Giang. 9 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN BẮC GIANG 1. Diện mạo chung truyền thuyết dân gian Bắc Giang Bắc Giang nằm ở vùng chuyển tiếp giữa châu thổ sông Hồng với miền thƣợng du phía đông bắc Bắc Bộ. Bắc Giang không chỉ là một vùng văn hóa cổ mà còn là vùng đất giàu truyền thống thƣợng võ, tinh thần cách mạng.
Mảnh đất ấy còn ghi dấu biết bao giá trị văn hóa quý báu với hàng ngàn lễ hội truyền thống. Ba con sông Cầu, sông Thƣơng, sông Lục Nam nhƣ vệt chân chim tạc trên miền Đông thổ đã dệt lên nhiều truyền thuyết đẹp trong kho tàng văn hóa dân gian đất Việt. Những truyền thuyết ấy chứa đựng trong nó các sắc thái văn hóa địa phƣơng, đồng thời trong không gian và thời gian nó đƣợc bồi đắp liên tục những giá trị văn hóa dân gian địa phƣơng ấy. Thể loại truyền thuyết đặc biệt ở chỗ bản thân vừa chứa đựng vẻ cổ xƣa bí ẩn với cái cốt là lịch sử lại vừa phô diễn vẻ tƣơi tắn hiện đại thể hiện qua các lễ hội.
Truyền thuyết dân gian Bắc Giang cũng đƣợc nhuốm màu văn hóa vùng miền đặc trƣng. Đó là văn hóa có sự kết hợp cả miền núi, trung du và đồng bằng. Số lượng truyền thuyết dân gian Bắc Giang Do đặc trƣng về chủ thể sáng tạo và phƣơng thức lƣu truyền nên truyền thuyết cũng nhƣ các thể loại văn học dân gian khác có một số phận khá đặc biệt. Sự tồn tại của truyền thuyết phụ thuộc vào trí nhớ, khả năng tri nhận, lƣu giữ của cộng đồng.
Mặt khác nó đƣợc bồi đắp bằng sự sáng tạo vô biên của dân gian. Tâm thức dân gian gán cho nó muôn vàn giá trị của nhân dân, ẩn chứa trong đó cả những ƣớc mơ, hoài bão, những dự định mà con ngƣời chƣa thể thực hiện đƣợc. 10 Dƣờng nhƣ truyền thuyết đƣợc ƣu ái hơn các thể loại văn học dân gian khác bởi số phận của nó không chỉ đơn thuần là những cốt truyện truyền miệng mà nó còn có mối ràng buộc sinh tử với những giá trị vật thể hiện hữu nhƣ đình, đền, chùa, miếu, lăng, tẩm, nhà thờ họ, …. Trí nhớ nhân dân và di tích lịch sử văn hóa cùng nuôi dƣỡng truyền thuyết khiến cho nó sống động và linh thiêng trong lời kể, trong lễ hội, diễn xƣớng.
Gần 800 năm lịch sử, Bắc Giang là một vùng văn hóa nhiều màu sắc, trải qua bao biến thiên lịch sử từ thời các vua Hùng đến nay đã tạo nên hàng trăm truyền thuyết, chƣa kể những truyền thuyết còn vƣơng sót đâu đó trong dân gian chƣa đƣợc bất kỳ nhà sƣu tầm văn hóa dân gian nào biết đến. Tuy nhiên, để tiện việc phân tích và nghiên cứu, chúng tôi buộc phải giới hạn truyền thuyết dân gian Bắc Giang bằng một con số cụ thể với độ chính xác nhất định thông qua quá trình tập hợp, lựa chọn từ nhiều tuyển tập truyện kể dân gian khác nhau và sƣu tầm từ các cuộc điền dã thực tế ở địa phƣơng. Tiêu chí thống kê: Những tiêu chí đƣợc đƣa ra để thống kê truyền thuyết là lựa chọn những truyện kể thích hợp và đáp ứng đủ các yếu tố cần thiết để làm nên một truyền thuyết. Bên cạnh việc thống kê các bản kể đã đƣợc cố định ở dạng văn bản, chúng tôi còn khảo sát các bản kể truyền miệng chƣa đƣợc ghi chép còn lƣu truyền trong dân gian.
Điều đó giúp chúng tôi nhìn truyền thuyết dân gian nhƣ một sinh thể đang vận động trong chính môi trƣờng sinh ra nó. Cuối cùng để có một con số thống kê súc tích, tiêu chí thứ ba mà chúng tôi đặt ra là sự quy các dị bản về một mối. Theo cách đó chúng tôi dễ dàng nhận biết sự phát triển của một cốt truyện truyền thuyết đồng thời nắm bắt đƣợc khả năng biến hóa của nó dƣới sức mạnh của tâm thức dân gian. 11 Số lƣợng: Với các tiêu chí đó, chúng tôi thống kê 100 truyền thuyết trong kho tàng văn học dân gian Bắc Giang thông qua các sách vở thƣ tịch.
Tương quan với các thể loại truyện kể dân gian khác Trong cuốn : Di sản văn học dân gian Bắc Giang có 186 truyện thì có 9 thần thoại (4,8%), 44 truyện kể (23,6%) , 64 truyền thuyết (34,4%), 69 truyện cổ tích (37,2%). Những con số mang tính chất tƣợng trƣng trên cho thấy truyền thuyết có vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa dân gian Bắc Giang. Điều đó còn chứng tỏ vùng đất Bắc Giang xƣa kia là một trong những vùng giao tranh chủ yếu của các vua Hùng với các thế lực xâm lấn từ phƣơng Bắc. Đặc biệt một khối lƣợng lớn các truyền thuyết viết về ngƣời anh hùng nông dân đã phản ánh truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cƣờng, anh dũng của những ngƣời con quê hƣơng Bắc Giang.
Các dạng truyền thuyết tiêu biểu 1. Lý thuyết phân loại Vấn đề phân loại truyền thuyết là một vấn đề phức tạp. Mỗi cách phân loại của các nhà Folklore đều có lý riêng và căn cứ vào những tiêu chí nhất định. Thực tế phức tạp của vấn đề phân loại truyền thuyết đã đƣợc nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch mô tả khá tỉ mỉ trong bài viết Xác định thể loại truyền thuyết [43, tr.
Trong bài viết này, tác giả đã trình bày tỉ mỉ những khuynh hƣớng khác nhau khi phân loại truyền thuyết của giới folklore quốc tế. Ở Nhật Bản có ít nhất 4 phƣơng án phân loại đƣợc thực hiện dƣới 4 tiêu chí khác nhau. Khi lấy sự vật khách thể có liên quan đến nội dung truyền thuyết là tiêu chí phân loại, truyền thuyết đƣợc chia làm 6 loại: Loại cây cối; Loại hang động, đá nói; Loại nƣớc; Loại mồ mả; Loại sƣờn đèo, dốc núi; Loại nhà thờ. Khi tiêu chí phân loại là hình thái tồn tại và chức năng của truyền thuyết làm tiêu chí phân loại thì truyền thuyết đƣợc chia làm 3 loại: truyền thuyết 12 thuyết minh (giải thích nguồn gốc các sự vật); Truyền thuyết lịch sử (về các nhân vật và sự kiện lịch sử); Truyền thuyết tín ngƣỡng.
Khi căn cứ vào tính chất của nội dung truyền thuyết lại phân thành 6 loại lớn nhƣ: Truyền thuyết thần tiên; Truyền thuyết thị tộc; Truyền thuyết nữ giới; Truyền thuyết động thực vật; Truyền thuyết địa lí, thiên văn; Truyền thuyết tôn giáo. Căn cứ vào quan điểm lịch sử cội nguồn, có nhà folklore lại chia truyền thuyết làm 3 loại: Truyền thuyết thần thoại; Truyền thuyết lịch sử; Truyền thuyết văn nghệ. Đối với giới nghiên cứu folklore Trung Quốc tình hình phân loại truyền thuyết cũng diễn ra tƣơng tự. Có tài liệu chia truyền thuyết thành 6 loại: Truyền thuyết nhân vật (danh nhân lịch sử); Truyền thuyết lịch sử (sự kiện lịch sử); Truyền thuyết địa phƣơng (nguồn gốc địa danh); Truyền thuyết sản vật; Truyền thuyết phong tục; Truyền thuyết thời sự.
Còn tác giả cuốn Từ điển truyện dân gian Quảng Tây lại phân loại truyền thuyết gọn gàng hơn, chỉ gồm 3 loại: Truyền thuyết nhân vật; Truyền thuyết sự kiện lịch sử; Truyền thuyết phong vật địa phƣơng. Đặc biệt trong một công trình đồ sộ Trung Quốc truyền thuyết cố sự đại từ điển, các tác giả đã đề xuất phân loại truyền thuyết thành 23 loại hình nhƣ: Loại hình gà gáy; Loại hình phụ nữ hiến thân; Loại hình đá vọng phu…. Ở Việt Nam, vấn đề phân loại truyền thuyết đƣợc Lê Chí Quế nhận xét: “ Vấn đề phân loại truyền thuyết Việt Nam từ trước đến nay ít được bàn đến’’ [ 80, tr. Bản thân tác giả Lê Chí Quế, ngƣời biên soạn mục “Truyền thuyết” trong cuốn “ Văn học dân gian Việt Nam” chia truyền thuyết thành 3 loại: Truyền thuyết lịch sử; Truyền thuyết anh hùng; Truyền thuyết về các danh nhân văn hóa.
Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong sách Văn học dân gian Việt Nam, tập II [99] lại chia truyền thuyết thành 4 nhóm: Truyền thuyết về họ Hồng Bàng và thời kỳ Văn Lang; Truyền thuyết về thời kỳ Âu Lạc và Bắc 13 thuộc; Truyền thuyết về thời kỳ phong kiến tự chủ; Truyền thuyết về thời kỳ Pháp thuộc. Trong giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP 12+2, tác giả Đỗ Bình Trị lại đặt ra hai cách phân loại truyền thuyết. Cách thứ nhất: tác giả căn cứ theo lịch sử và căn cứ vào “ phạm vi những sự kiện và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm” [91] để chia truyền thuyết thành hai bộ phận: Những truyền thuyết về thời vua Hùng và Những truyền thuyết về sau thời vua Hùng. Trong bộ phận hai này lại chia thành các nhóm nhỏ: Truyền thuyết về: “ những cuộc khởi nghĩa và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm với nhân vật trung tâm là những anh hùng dân tộc”, truyền thuyết về “ danh nhân văn hóa và những vị quan nổi tiếng công minh chính trực hoặc có tài kinh băng tế thế”; Truyền thuyết về “ những cuộc nổi dậy chống ách áp bức của vua quan tham tàn, bạo ngược, với nhân vật trung tâm được ngày nay gọi là anh hùng nông dân”.
Cách phân loại thứ hai: Đỗ Bình Trị căn cứ vào những đặc trƣng của thể loại và sự khác biệt của đối tƣợng đƣợc truyện kể đến, ông chia truyền thuyết thành ba tiểu loại: Truyền thuyết địa danh (gồm những truyện kể dân gian về nguồn gốc lịch sử của những tên gọi địa lí khác nhau hoặc về nguồn gốc bản thân những địa điểm, địa hình, sự vật địa lý ấy’’; Truyền thuyết phổ hệ (gồm “ những truyện kể dân gian về nguồn gốc các thị tộc, bộ lạc, gia tộc, các làng xã, thành thị, xƣởng máy… và các thủy tổ, tổ sƣ cùng những đại biểu tài năng nhất của các nghề thủ công mỹ nghệ,…); Truyền thuyết về nhân vật lịch sử và sự kiện lịch sử [91, tr. Trong bài Tổng quan về thể loại truyền thuyết, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch đã đƣa ra những bất cập, những chỗ chƣa thỏa đáng cần trao đổi bàn bạc thêm. Trên cơ sở đó, ông đƣa ra phƣơng án phân loại truyền thuyết thành ba loại lớn: Truyền thuyết nhân vật; Truyền thuyết địa danh; Truyền thuyết phong vật (phong tục, sản vật). Tác giả cũng định hình rõ mỗi loại trên bằng cách “ 14 trong mỗi loại lớn lại tùy theo đề tài, chức năng của nội dung truyện kể mà phân chia tiếp thành các biến thể, thể loại hoặc tiểu loại” [43, tr.