Đặt vấn đề Chương này có hai nhiệm vụ quan trọng là: tiến hành tổng quan lịch sử của việc nghiên cứu quan hệ thuộc tính; xác lập cơ sở lí thuyết để phục vụ cho việc nghiên cứu quan hệ thuộc tính. Dưới đây là nội dung chi tiết. Lịch sử nghiên cứu Tìm hiểu trong lịch sử ngữ nghĩa học mà cụ thể là ngữ nghĩa học từ vựng, luận văn thấy rằng quan hệ thuộc tính tuy không được nghiên cứu một cách trực tiếp với tư cách là một quan hệ ngữ nghĩa có tác dụng kết nối các đơn vị từ vựng khác từ loại với nhau, nhưng quan hệ này cũng đã được đề cập nghiên cứu một cách gián tiếp dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều tên gọi khác nhau. Cách tiếp cận từ góc độ ngữ pháp Về góc độ ngữ pháp, khi miêu tả sự đối đãi, ràng buộc về mặt ngữ nghĩa giữa các định tố/ định ngữ với danh từ trung tâm trong danh ngữ (cụm danh từ), giữa các tính từ làm bổ ngữ cho động từ trung tâm trong động ngữ (cụm động từ) các nhà ngữ pháp học đã ít nhiều gián tiếp đề cập đến quan hệ thuộc tính [1, 6, 7, 23, 24, 25, 33,…].
Các tính từ chỉ thuộc tính, trong những miêu tả của các nhà ngữ pháp, chỉ được xem như là một thành tố phụ có tính chất hạn định hoặc miêu tả cho thành tố danh từ hay động từ trung tâm. Quan hệ thuộc tính, một quan hệ ngữ nghĩa chính danh, đã được các nhà ngữ pháp gián tiếp gọi tên và xem nó như là một trong những biểu hiện có tính cách ngữ pháp giữa thành tố trung tâm và thành tố phụ. Trong Ngữ pháp tiếng Việt (1983) [33] của Uỷ ban Khoa học Xã hội, các tác giả nói về mối quan hệ giữa phụ tố hạn định và chính tố trung tâm trong ngữ danh từ; và quan hệ giữa phụ tố cách thức và chính tố trung tâm trong ngữ động từ. Các tác giả cho rằng, xét về mặt ngữ pháp, ngữ là một cấu tạo theo quan hệ cú pháp chính phụ, mà phương tiện biểu thị quan hệ chính phụ trước hết là trật tự.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong danh ngữ, chính tố giữ vị trí trung tâm, các phụ tố được đặt vào hai khu vực: khu vực các phụ tố trước và khu vực các phụ tố sau. Khu vực sau của danh ngữ có thể bao gồm những phụ tố sau đây: phụ tố hạn định sự vật bằng đặc điểm; phụ tố chỉ định vị trí của sự vật trong không gian. Trong đó, phụ tố hạn định có thể do nhiều từ loại đảm nhiệm như danh từ, động từ, tính từ, hay một ngữ. Trong trường hợp phụ tố hạn định do tính từ đảm nhiệm, phụ tố đó nêu lên đặc điểm của sự vật và có tác dụng hạn định hay miêu tả chính tố.
Ví dụ, trong một học sinh giỏi, một thái độ tốt thì, giỏi là đặc điểm miêu tả và hạn định cho học sinh, tốt là đặc điểm miêu tả và hạn định cho thái độ. Tương tự, động ngữ cũng bao gồm chính tố là động từ và phần phụ trước, phụ sau. Phần phụ sau có thể do nhiều từ loại khác nhau đảm nhiệm, có thể có những phụ tố để nói rõ phương tiện, cách thức, nơi chốn, mục đích,. Ví dụ: phụ tố cách thức (như thế nào): chạy nhanh, nói chậm, suy nghĩ miên man,.
Trong đó, các thành tố chạy, nói, suy nghĩ là những động từ và là thành tố trung tâm. Các thành tố nhanh, chậm, miên man là những tính từ giữ vai trò là phụ tố cách thức trong động ngữ. Tác giả Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt [7] cho rằng danh ngữ bao gồm hai thành phần chính là danh từ trung tâm và định ngữ/ định tố của danh từ đó. Trong đó, định ngữ có chức năng hạn định, danh từ là cái có thể tiếp nhận đặc trưng với nghĩa rộng bao gồm các khía cạnh khác nhau: đặc trưng về hoạt động, tính chất, về thời gian, về sở hữu, về phương tiện.
Theo tác giả, giữa ngôn ngữ và tư duy, danh từ, trong khi chỉ khái niệm “sự vật tính” luôn có nhu cầu hiển ngữ các đặc trưng vốn có của nó. Các đặc trưng này (như phẩm chất, kích thước, trật tự,.) chỉ ra tính đa dạng của các sự vật. Vì vậy, định ngữ biểu thị các đặc trưng khu biệt, nhờ đó người ta nhận ra sự khác nhau giữa các sự vật. Tác giả Nguyễn Kim Thản trong Ngữ pháp tiếng Việt [24] cũng gián tiếp nhắc đến quan hệ thuộc tính trong mối quan hệ ngữ nghĩa giữa danh từ và bổ ngữ.
Theo tác giả, “Danh từ đứng một mình thường biểu thị khái niệm chung về 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cả một loại sự vật,. Khi không muốn nói chung về cả loại sự vật mà chỉ muốn nói về một hay một số sự vật cụ thể nào đó thì ta phải hạn chế khái niệm lại. Muốn hạn chế khái niệm thì khi nói ta phải thêm bổ ngữ cho danh từ, lập thành cụm danh từ” [24, tr. Còn theo tác giả Nguyễn Văn Chính trong Giáo trình Từ pháp học tiếng Việt [6], tổ chức danh ngữ tiếng Việt bao gồm: thành tố trung tâm và các thành tố phụ.
Quan hệ giữa thành tố chính và các thành tố phụ là quan hệ chính phụ. Trong đó, thành tố trung tâm là bộ phận quan trọng nhất, được coi là xương sống của đoản ngữ. Bộ phận này trong danh ngữ phải do một danh từ đảm nhiệm, có vị trí nằm ngay trung tâm đoản ngữ. Còn các thành tố phụ (còn gọi là định tố) là một tập hợp gồm hai bộ phận nhỏ phân bố phía trước và phía sau danh từ trung tâm.
Các thành tố phụ trước danh ngữ thường bổ sung thêm một chi tiết phụ không có tác dụng đến ngoại diên của khái niệm do danh từ trung tâm biểu thị. Định tố cuối thì lại thường có tác dụng nêu một chi tiết hạn chế ngoại diên của khái niệm nêu ở danh từ trung tâm, khu biệt hẳn một bộ phận sự vật này với bộ phận sự vật khác. Ví dụ: Học sinh (khái niệm chung)/ học sinh giỏi (khái niệm hẹp hơn). Theo tác giả, cũng như danh ngữ, cấu trúc đầy đủ của một động ngữ bao gồm ba phần: phần đầu + phần trung tâm + phần cuối.
Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ là quan hệ chính phụ. Phần đầu của động ngữ thường mang tính chất hư nhiều hơn thực. Còn thành phần đứng cuối động ngữ thì đa dạng về mặt hình thức và biểu thị nhiều ý nghĩa khác nhau như: đối tượng hành động, điểm đến/ điểm xuất phát, địa điểm, phương hướng, mục đích của hành động,. Như vậy, dù không gọi tên trực tiếp quan hệ thuộc tính, nhưng khi miêu tả về cấu tạo cụm từ, các tác giả cũng đã gián tiếp nhắc đến ngoại diên của quan hệ thuộc tính khi nói về mối quan hệ giữa danh từ trung tâm với phụ tố hạn định và giữa động từ trung tâm với các phụ tố đứng sau.
Tuy nhiên, yếu tố phụ trong các cụm từ đó theo cách tiếp cận ngữ pháp thì rất rộng, có thể thuộc từ loại danh từ, động từ hoặc tính từ. Trong khi đó, thuộc tính chỉ là một bộ phận trong đó. Yếu 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tố chỉ thuộc tính có trong các cấu tạo ngữ pháp đó chỉ có thể là tính từ không thể là danh từ, hay động từ. Ví dụ, trong các cụm từ cái con mèo mun mà mẹ tôi mua ấy, cái con mèo ấy thì chỉ có mun trong cụm thứ nhất mới có quan hệ thuộc tính với con mèo, các định tố khác không biểu thị giá trị thuộc tính.
Cách tiếp cận từ góc độ từ vựng – ngữ nghĩa Trong lịch sử nghiên cứu Việt ngữ học ở bình diện từ vựng – ngữ nghĩa, quan hệ thuộc tính được nhắc đến một cách không trực tiếp khi miêu tả cấu tạo từ (hay ngữ, như cách gọi của Nguyễn Thiện Giáp) mà cụ thể là cấu tạo từ ghép hay quan hệ giữa các thành tố của từ ghép [2, 3, 6, 7, 8, 10, 20, 29]. Theo cách hiểu truyền thống, cấu tạo từ là bộ phận giao điểm của cả ngữ pháp và từ vựng – ngữ nghĩa. Trên phương diện ngữ nghĩa, cách cấu tạo từ liên quan đến ngữ nghĩa của các thành tố cấu tạo từ và ý nghĩa của cả từ. Vì vậy, từ vựng – ngữ nghĩa cần thiết phải nghiên cứu về cấu tạo từ.
Trong nghiên cứu từ vựng – ngữ nghĩa, có một số tác giả đã gián tiếp đề cập quan hệ thuộc tính khi miêu tả cấu tạo của từ ghép tiếng Việt mà cụ thể là từ ghép chính phụ. Chẳng hạn như: Trong nghiên cứu về cấu tạo từ, tác giả Nguyễn Văn Tu trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại [32] cho rằng, từ ghép được phân chia thành từ ghép hợp nghĩa và từ ghép bổ nghĩa. Trong đó, những từ ghép bổ nghĩa là những từ ghép được tạo ra bằng hai từ tố theo quan hệ không ngang nhau về kết cấu và nghĩa. Có một từ tố chính mang nghĩa chính và một từ tố mang nghĩa bổ sung.
Cái nghĩa bổ sung này có thể làm rõ nghĩa thêm cho toàn bộ từ. Ví dụ: cà chua: gồm hai từ tố, cà chỉ thứ quả để muối ăn và chua vốn là tính từ chỉ vị như giấm. Bên cạnh đó, trong Từ tiếng Việt [12] của Hoàng Văn Hành, tác giả cho rằng từ ghép bao gồm từ ghép hội nghĩa và từ ghép phân nghĩa. Từ ghép phân nghĩa, truyền thống Việt ngữ học gọi loại từ ghép này là từ ghép chính phụ (từ bình diện hình thái học), từ ghép bổ nghĩa, từ ghép phân nghĩa (bình diện ngữ nghĩa học).
Trong từ ghép phân nghĩa, thành tố thứ nhất bao giờ cũng biểu thị ý 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa phạm trù và giữ vai trò chính, vai trò trung tâm. Còn thành tố thứ hai biểu thị thuộc tính khu biệt của sự vật, quá trình hay tính chất do thành tố thứ nhất biểu thị. Hay nói cách khác là biểu thị nét khu biệt đặc trưng cho từng loại. Thành tố thứ hai trong từ ghép phân nghĩa có thể là: + biểu thị thuộc tính về chất liệu làm nên toàn bộ hay bộ phận của thành tố thứ nhất: nhà gạch, nhà ngói, bàn gỗ,.
+ biểu thị thuộc tính về nguồn gốc xuất xứ của thành tố thứ nhất: chuối tây, hồng xiêm, thuốc lào, miến tàu,… + biểu thị thuộc tính về chức năng: máy xúc, máy ủi, máy tiện,… + biểu thị thuộc tính về phương thức hoạt động: bàn xoay, máy bay,.