Chương 1: TẤN BI KỊCH CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI 1. Từ hưng thịnh đến suy vong - bước ngoặc của nước Sở thời Khuất Nguyên Trước khi Tần thống nhất Trung Quốc, Sở cũng là nước hùng mạnh trong thất hùng thời Chiến Quốc. Vốn là một bộ tộc lâu đời ở vùng Đan Dương (nay là miền Tây tỉnh Hồ Bắc) khi Chu Thành Vương phong cho Hùng Dịch ở đất Sở thì vương triều nhà Chu phần nào thừa nhận trên thực tế người Sở đã khống chế cả vùng Trường Giang và Hán Thuỷ. Nói như vậy, nhưng không phải tự nhiên Sở lại được nhà Chu nể trọng một cách vô cớ, chúng ta có thể lật lại những trang sử hào hùng của Sở.
Vào thế kỷ XIV trước công nguyên, đời Ân, Sở đã giữ vai trò quan trọng trên vũ đài lịch sử. Nhà Ân đã bao lần phái binh chinh phục Sở nhưng đều thất bại trước tinh thần quật cường của Sở. Từ đó, lưu vực Trường Giang và Hán Thuỷ là nơi định cư của Sở. Đến thế kỷ XI trước công nguyên, Sở liên minh với các bộ tộc ở lưu vực Hoàng Hà chống lại thiên triều nhà Chu hòng chiếm địa vị độc tôn.
Có lẽ, chính thái độ đó mà sau này Sở Trang Vương từng có ý “dòm ngó chín cái đỉnh của nhà Chu”. Nhà Chu bao lần đem quân chống trả, nhưng đều bị Sở nổi lên đánh bại, chỉ đến khi Chu Công đông chinh mới dẹp yên. Từ đó, nước Sở dần mở rộng, vua nước Sở là Hùng Cừ chia đất đai cho con cháu trước sau vẫn giữ thái độ xem thường nhà Chu.Vào khoảng giữa thế kỉ VIII trước công nguyên, Hùng Thông dựa vào thế lực ngày càng lớn mạnh của mình yêu cầu nhà Chu phong vương nhưng không được chấp nhận. Hùng Thông tự xưng Sở Vũ Vương, con trai là Văn Vương dời đô đến Sính (thuộc huyện Giang Lăng tỉnh Hồ Bắc ngày nay) xây dựng nước.
Những nước nhỏ ở lưu vực sông Hoài dần dần bị Sở thôn tính. Từ đó, Sở trở thành một nước lớn ở phía Nam với đất đai rộng nhất, nhân khẩu đông nhất. Thế nhưng, bờ cõi nước Sở đâu chỉ dừng lại ở đó, cuối thế kỷ thứ VII đến đầu thế kỷ VI trước công nguyên, Sở Trang Vương tiếp tục thôn tính thêm nhiều nước nữa, mở rộng lãnh thổ trên ba ngàn dặm. Có thể nói, lúc này ở phương Nam ngôi bá chủ của vùng Trung Nguyên thực sự thuộc về Sở.
Không những dân số phát triển, bờ cõi mở rộng, Sở còn có một nền kinh tế hết sức phồn vinh. Sở dĩ, có được như vậy là do điều kiện kinh tế ở phía Nam có nhiều tính ưu việt hơn phía Bắc. Bên cạnh nguồn thực phẩm dồi dào thì ngành công nghiệp của Sở cũng đặc biệt được chú trọng. Theo sử sách ghi lại thì Sở là một trong những nước sử dụng đồ sắt sớm nhất.
Không chỉ có sắt mà cuối thời Xuân Thu, Sở còn mở mang công nghiệp luyện thép với quy mô lớn. Có thể nói, nguyên liệu công nghiệp, nông nghiệp của Sở khá dồi dào. Nước Sở nằm ở phương Nam, do có sự cách biệt về địa lý nên nền văn hoá Sở cũng có những nét khá riêng. Trong quá trình phát triển, văn hoá Sở không ngừng có sự giao lưu và tiếp thu những tinh hoa của nền văn hoá Trung Nguyên.
Nét nổi bật nhất của nền văn hoá Sở là tục lên đồng (vu thuật). Người lên đồng hay còn gọi là vu nhân có nhiệm vụ nối kết giữa người và thần hay giữa thần và người. Khi tế lễ những vu nhân này thường đứng trên đài cao ca hát, nhảy múa để tiếp đón, tiễn đưa thần, cầu thần phù hộ, trừ họa giáng phúc cho con người. Những bài ca tế lễ này chính là những bài “cửu ca” đầu tiên của nước Sở để rồi sau này được Khuất Nguyên dựa vào đấy mà chỉnh lý, tu sửa thành những bài thơ ưu tú chiếm địa vị quan trọng trong Sở từ.
Dân ca Sở phát triển trên cơ sở đó. Nơi đây còn được thiên nhiên ban tặng cho nhiều phong cảnh đẹp như núi Côn Lôn, hồ Động Đình, đầm Vân Mộng. Một nhà thơ Trung Quốc đã từng nhận xét về miền đất này như sau: “khí hậu ấm áp, cây cỏ xanh tươi, phong cảnh tốt đẹp, sản vật phong phú. Núi lởm chởm, hết ngọn này đến ngọn khác, mây trắng phủ quanh năm, sông rạch quanh năm uốn khúc, như luyến tiếc cành xanh hoa thắm mà không nỡ rời” [30; tr.
Lịch sử cũng để lại nơi đây nhiều di tích thần kỳ. Đó chính là nguồn đề tài vô tận của bao nhà thơ, nhà văn mỗi khi đi ngang qua vùng đất này. Nước Sở dù đất rộng, người đông, được thiên nhiên ưu đãi nhưng nếu không có những cải cách chính trị , không tiến cử người tài thì có lẽ cũng bị tiêu diệt từ lâu. Chính vì vậy, khi Sở Điếu Vương lên ngôi đã dùng Ngô Khởi - học trò của Tăng Tử, một nhà quân sự có tài, theo học phái nho gia.
Nhờ thực hiện những cải cách của Ngô Khởi mà Sở ngày càng hùng mạnh. Có thể nói, mục tiêu đấu tranh cuối cùng của các nước thời bấy giờ là thống nhất Trung Quốc. Tần, Tề, Sở là những nước có khả năng đảm nhận nhiệm vụ đó vì họ khá mạnh, đất đai rộng mà tài nguyên lại nhiều. Diện tích của Sở gần bằng lãnh thổ của sáu nước Tần, Hàn, Triệu, Nguỵ, Yên, Tề cộng lại.
Sở lại có đội kị binh hùng mạnh không nước nào sánh kịp. lại nhờ biết thực hiện những cải cách chính trị đúng đắn của Ngô Khởi nên Sở có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ thống nhất Trung Quốc. Nhưng đáng tiếc thay, Sở đã để cơ hội hiếm có vuột khỏi tay mình. Đáng lẽ, Sở phải liên Tề chống Tần, ủng hộ chính sách hợp tung phản đối chính sách liên hoành, nhưng vua Sở lại cả tin vào những lời dụ dỗ của bọn thuyết khách (Trương Nghi), phá vỡ kế hợp tung.
Bao lần Sở phải lao đao chống cự với các nước Tần, Hàn, Ngụy…. Khuất nguyên - một vị quan thanh liêm hết lòng vì nước vì dân cũng bao phen lận đận. Mọi chủ trương của ông đều bị bọn quan lại ghen ghét, gièm pha. Đứng trước tình hình Sở ngày một yếu, Tần ngày một mạnh, mấy lần bị Tần lừa, Sở bị hại người, mất của nhưng vua Sở vẫn không tỉnh ngộ để rồi Sở Hoài Vương phải ném thây bên xứ người.
Sở Tương Vương lên ngôi nhưng tình hình đất nước vẫn không biến chuyển, trước sau vẫn giữ thái độ khuất thân hàng Tần, nghe lời súc xiểm của kẻ xấu mà hại các trọng thần. Nền chính trị ngày một rối ren. Cảnh đất nước bị diệt vong hiện ra trước mắt. Và điều không ai mong muốn ấy đã đến, mùa xuân năm 278 trước công nguyên tướng Tần là Bạch Khởi đem quân đánh chiếm Sính đô, đốt phá lăng tẩm của Sở.CN), nước Sở bị Tần tiêu diệt, kết thúc thời kì xưng hùng xưng bá ở phương Nam.
Thời đại “Trăm nhà đua tiếng” Cuộc đời hoạt động của Khuất Nguyên nằm trọn trong thời Chiến Quốc ( 403 - 221 trước CN). Có thể nói, thời kì này Trung Quốc như ánh hào quang với biết bao ngôi sao lạ chiếu sáng cả bầu trời. Theo GS Trần Xuân Đề thì đó là “thời kì của những biến động lớn của xã hội Trung Hoa, của phong trào “trăm nhà đua tiếng”, thời kì nở rộ những bông hoa đẹp của nền văn học cổ điển Trung Quốc ” [14; tr. Nguyễn Hiến Lê thì cho rằng “thời Chiến Quốc là hoàng kim thời đại của triết học, ngôn luận được hoàn toàn tự do, tất cả các thời sau, cho tới thời nay không thời nào bằng, và được gọi là thời “bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng) [30; tr.
Còn Hà Thúc Minh thì bảo thời kì Xuân Thu - Chiến Quốc là “bình minh của xã hội Trung Quốc” [40; tr. Quả vậy, lịch sử văn minh của thời kì vàng son ấy mãi lưu danh hậu thế và sự ảnh hưởng của nó đối với chúng ta đến ngày hôm nay vẫn còn sâu đậm. Hãy trở lại những ngày đầu trước khi xuất hiện “những bông hoa đẹp của nền văn học cổ điển Trung Quốc” để chúng ta có thể cảm nhận đầy đủ hơn những bước thăng trầm của thời đại. Trước khi nhà Chu hình thành, lịch sử Trung Quốc đã trải qua các đời vua gần nhất là Hạ, Thương (Ân).
Hình như thời nào cũng vậy, những năm đầu dựng nước thì vua sáng tôi hiền luôn chăm lo đời sống nhân dân, xây dựng một đất nước giàu mạnh, nhưng càng về sau vua quan ăn chơi sa đoạ, chỉ biết hưởng lạc chứ ít ngó ngàn đến nhân dân, đất nước. Chính vì thế mà triều đại của họ chỉ tồn tại đến mấy trăm năm rồi suy tàn, đổ nát. Vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Ân Thương là những ông vua như vậy. Khi nhà Chu lên nắm chính quyền tình hình cũng chẳng mấy sáng sủa, trong những năm đầu giai cấp thống trị hô hào tiết kiệm, cấm chỉ giới quí tộc ăn chơi xa xỉ.
Thời gian này các sử gia gọi là thời hưng thịnh của Thành Vương và Khang Vương. Nhưng vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc tình hình xã hội khác trước rất nhiều. Chế độ chiếm hữu ruộng đất đã thay đổi. Ruộng đất được phép tự do mua bán đưa đến sự thay đổi về quyền sở hữu ruộng đất và quan hệ sản xuất.
Giai cấp địa chủ xuất hiện và chi phối các mặt chính trị, kinh tế văn hoá của mỗi nước. Những người nông nô từng bị ràng buộc trên mảnh đất quê hương, bây giờ trở thành nông dân hoặc dân thành thị tự do. Sự phản kháng của nô lệ và bình dân chống bọn quí tộc chủ nô lan rộng và gay gắt. Quyền thống trị thiêng liêng bất khả xâm phạm của thiên triều nhà Chu bị lung lay, không đủ sức khống chế chư hầu.
15] Khi nhà Chu còn thịnh thì trật tự được phân minh nhưng khi nhà Chu đã suy phải dời đô về phía Đông thì mệnh lệnh của thiên tử không ai nghe. Một khi vai trò của nhà Chu không còn tác dụng thì sự tranh giành quyền bính thế lực của các chư hầu vì thế mà cũng tăng theo. Nước mạnh thôn tính nước yếu, nước lớn chiếm nước nhỏ. Cuộc binh đao vì thế mà chẳng lúc nào dứt được.
Tình trạng chia cắt vụn vặt bớt đi. Thời Tây Chu có tám trăm đến một ngàn chư hầu nhưng bây giờ rút xuống còn một trăm nước. Thời đại này sử Trung Quốc gọi là thời Xuân Thu. Trước sự loạn lạc rối ren, đạo đế vương mờ tối, người đời đắm say vào con đường danh lợi chẳng mấy ai thiết nghĩ đến nhân nghĩa.