CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm tư duy Trong cuộc sống, từ “tư duy” được sử dụng khá phổ biến nhưng không phải ai cũng hiểu được chính xác định nghĩa “tư duy”. Nhiệm vụ của cuộc sống luôn đòi hỏi chúng ta phải thấu hiểu, tìm tòi, giải đáp những điều chúng ta chưa biết, tìm ra bản chất và những quy tắc tác động vào chúng.
Quá trình nhận thức đó được gọi là tư duy. Dưới góc độ sinh học, tư duy được biết đến là hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc liên kết các phần đã ghi nhớ, chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh. Theo góc độ tâm lí học, tư duy phản ánh thế giới vật chất: “Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng mà trước đó ta chưa biết” [Phạm Minh Hạc(1998), 11]. Tư duy là thuộc tính đặc biệt của não bộ con người.
Quá trình này phản ánh gián tiếp, độc lập và mang tính khái quát, được nảy sinh trên các hoạt động thực tiễn từ sự nhận thức cảm tính nhưng vượt xa nhận thức cảm tính. Theo góc độ giáo dục, tư duy là chuỗi các hoạt động của não bộ diễn ra khi nhận được sự kích thích thông qua các giác quan như xúc giác (sờ, cầm, nắm.), thị giác (quan sát/ trực quan), thính giác (nghe giảng/ cảm nhận âm thanh), khứu giác (ngửi/ cảm nhận sự vật bằng mũi) và vị giác (ăn, nếm,. Tóm lại, tư duy có thể hiểu là một hiện tượng tâm lý, là hoạt động bậc cao của con người. Hoạt động tư duy chính là hoạt động trí tuệ.
Đặc điểm của tư duy Tư duy với con người là chủ thể chỉ nảy sinh khi gặp tình huống có vấn đề. Tư duy luôn phản ánh gián tiếp hiện thực, phản ánh bản chất của một hay nhiều sự vật hợp thành một nhóm, một loại hay một phạm trù và đồng thời giúp 9 sự vật đó thoát ra khỏi cái cụ thể, cá biệt, thoát khỏi những kinh nghiệm cảm tính. Khi một cá nhân nhận thức một vấn đề một cách đầy đủ và biết chuyển vấn đề thành nhiệm vụ cá nhân (cái đã biết, cái cần tìm hiểu và giải quyết), thông qua những kinh nghiệm, hiểu biết cá nhân sau đó đưa ra được cách giải quyết vấn đề đó, cá nhân đó chính là chủ thể của tư duy. Kết quả của quá trình tư duy được cố định lại bằng hoạt động ngôn ngữ qua đó khiến bản thân chủ thể hay khách thể tiếp nhận nó một cách khách quan.
Khái niệm tư duy sáng tạo Nhà tâm lí học người Nga L.Vygotsky khẳng định: “Sự sáng tạo thật ra không chỉ có ở nơi nó tạo ra những tác phẩm lịch sử vĩ đại, mà ở khắp nơi nào con người tưởng tượng, phối hợp, biến đổi và tạo ra một cái gì mới, cho dù cái mới ấy nhỏ bé đến đâu đi nữa so với những sáng tạo của các thiên tài”[19]. Trong cuộc sống hàng ngày, sáng tạo là một điều kiện cần thiết của sự tồn tại và tất cả cái gì vượt qua khuôn khổ cũ và chứa đựng dù chỉ một nét của cái mới thì nguồn gốc của nó đều là do quá trình sáng tạo của con người mà ra. Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần, tạo ra cái mới, khám phá ý tưởng mới hoặc phát triển nó. Torrance cho rằng: Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết, nghiên cứu và tìm ra kết quả.
Sáng tạo “là quá trình trở nên nhạy cảm hay nhận biết nhiều vấn đề, sự thiếu hụt hay lỗ hổng trong kiến thức, sự thiếu hụt các yếu tố hay sự thiếu hòa hợp,. cùng nhau đưa đến các mối quan hệ mới với những thông tin hiện tại có giá trị từ đó dẫn đến tìm kiếm những phương án giải quyết, những phỏng đoán, công thức hóa về vấn đề” [43]. Theo Chu Quang Tiềm: “Sáng tạo, căn cứ vào những ý tưởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén, chọn lọc, tổng hợp lại để thành một hình tượng mới”[33]. Quan niệm này nhấn mạnh đến những cái đã biết làm cơ sở cho sự sáng tạo.
10 Trong cuốn “Sổ tay Tâm lý học”, tác giả Đỗ Long và Trần Hiệp đã viết rằng: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kĩ năng và với điều kiện như vậy mới tạo nên sản phẩm mới, độc đáo, sâu sắc”[12]. Trích trong “Đề cương bài giảng Tâm lý học sáng tạo” của TS. Nguyễn Huy Tú (1996), sáng tạo được định nghĩa như sau: “Sáng tạo thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề.
Quá trình này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống để đưa ra những giải pháp mới độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra” [37]. Nhà tâm lý học J. Guilford (Mỹ) cho rằng: Tư duy sáng tạo là tìm kiếm và thể hiện những phương pháp lôgic trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề để giải quyết nhiệm vụ đó.
Vì vậy sáng tạo là một thuộc tính của tư duy, là một phẩm chất của quá trình tư duy. Đó còn gọi là tư duy sáng tạo [35]. Tư duy sáng tạo là một quá trình rất độc đáo, là kiểu tư duy đặc biệt, không chỉ là những thao tác với các thông tin đã biết theo con đường logic hay lấy ra từ trí nhớ. Tư duy sáng tạo là cách nhìn nhận vấn đề, sự việc, con người… theo những cách thức khác với cách nhìn nhận thông thường- đó là những cách nhìn mới mẻ- bằng việc sử dụng kiến thức của mình và thay đổi bối cảnh mà chúng ta nghĩ về những kiến thức đó.oNói cách khác, đó là việc nhìn những điều mọi người đều nhìn thấy và nghĩ ra một điều gì đó khác biệt.
Sản phẩm của tư duy sáng tạo là cách thức, là quá trình tạo ra cái mới. Tư duy sáng tạo được đánh giá cao, nó thực sự cần thiết đối với mỗi cá nhân, mỗi chủ thể nhận thức và có thể được cải thiện, phát triển nếu được quan tâm từ sớm và rèn luyện đúng cách. Đặc trưng của tư duy sáng tạo Trong các nghiên cứu về tư duy sáng tạo, đã có nhiều quan niệm được đưa ra về đặc trưng (hay thuộc tính) của tư duy sáng tạo. Các quan niệm chỉ ra rằng tính linh hoạt (mềm dẻo), tính thuần thục (nhuần nhuyễn), tính độc đáo, tính phê phán, tính nhạy cảm vấn đề, tính chi tiết, tính độc lập và khả năng giải quyết vấn đề theo cách mới là những đặc trưng tiêu biểu của tư duy sáng tạo.
Guilford- nhà tâm lý học người Mỹ cho rằng: Tư duy sáng tạo về bản chất là tìm kiếm và trình bày những phương pháp logic trong tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp mới và khác nhau của việc giải quyết vấn đề. Do đó sáng tạo là một thuộc tính của tư duy, là một kết quả của quá trình tư duy. Trong đề tài này, chúng tôi đồng quan điểm với các nhà tâm lý học nghiên cứu về chủ đề này như J. Torrance chỉ ra rằng đặc trưng của tư duy sáng tạo là các yếu tố chính: Tính mềm dẻo (flexibility), tính thuần thục (fluency), tính độc đáo (originality), tính nhạy cảm (problensensibility) và tính chi tiết (elaboration) [35].
Tính mềm dẻo (flexibility) Là khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác. Đó là năng lực chuyển đổi dễ dàng từ trật tự của hệ thống tri thức, xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong mối quan hệ mới,. dễ dàng thay đổi các thái độ sẵn có trong hoạt động trí tuệ con người. Tính mềm dẻo được thể hiện qua các đặc trưng sau đây: - Biết phối kết hợp những thao tác tư duy, các phương pháp suy luận.
- Dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sang hoạt động trí tuệ khác;otừ giải pháp này sang giải pháp khác; - Khi gặp trở ngại biết điều chỉnh kịp thời hướng suy nghĩ; - Nhìn nhận vấn đề mới trong điều kiện đã quen thuộc, nhìn thấy chức năng mới của đối tượng đã quen biết. 12 - Không suy nghĩ rập khuôn, không áp dụng một cách máy móc những kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng đã có vào trong những điều kiện, hoàn cảnh mới trong đó có những yếu tố đã thay đổi. - Có khả năng thoát khỏi ảnh hưởngocủa những kinh nghiệm, phương pháp, cách thức suy nghĩ đã có. Tính thuần thục (fluency) Tính thuần thục là sự tổ hợp nhanh chóng các yếu tố riêng lẻ của một sự vật, hiện tượng, một tình huống và sau đó đưa ra những giả thiết, những giải pháp, những ý tưởng mới.
Là khả năng tìm ra được nhiều phương pháp trên nhiều góc độ và tình huống khác nhau. Tính thuần thục của tư duy sáng tạo được thể hiện ở các đặc trưng: - Khả năng xem xét đối tượng dưới nhiều khía cạnh, cái nhìn đa chiều và toàn diện đối với một vấn đề. - Khả năng tìm được nhiều giải pháp cho một vấn đề, sàng lọc các giải pháp để chọn ra giải pháp tối ưu. Tính độc đáo (originality) Đây là đặc trưng rõ nét nhất của tư duy sáng tạo.
Đó là khả năng tìm kiếm và giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, nhạy bén bằng những phương thức mới lạ, khác biệt và duy nhất. Tính độc đáo được đặc trưng bởi những khả năng sau: - Khả năng tìm ra những liên tưởng và kết hợp mới, những giải pháp lạ - Khả năng tìm ra các mối quan hệ trong những sự kiện bên ngoài tưởng như không có sự liên hệ với nhau - Khả năng tìm ra những giải pháp lạ thay thế những giải pháp đã biết. Tính nhạy cảm (problensensibility) Khả năng nhìn nhận vấn đề nhanh chóng, giải quyết vấn đề một cách mới lạ, độc đáo và mang lại hiệu quả cao. Nhìn thấy những lỗ hổng, mâu thuẫn, là 13 sai lầm, là sự thiếu tối ưu, thiếu logic,.
Do đó tính nhạy cảm với vấn đề được thể hiện rất rõ ràng trong những cá nhân có tư duy sáng tạo. Tính chi tiết (elaboration) Hay còn được gọi là tính hoàn thiện.