CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 1. Sơ lược sự hình thành và khái niệm kế toán quản trị Kế toán quản trị đã xuất hiện đầu tiên ở Mỹ từ cuối thế kỷ XIX và ngày nay đã phát triển thành môn khoa học kinh tế mang tính ứng dụng cao ở hầu hết các nước phát triển. Kế toán quản trị trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau.
Ở giai đoạn đầu tiên, trước năm 1950, KTQT tồn tại dưới dạng kế toán chi phí. Mục tiêu chủ yếu của KTQT là xác định chi phí và kiểm soát tài chính bằng cách sử dụng phương pháp lập dự toán và phương pháp tính giá thành sản phẩm để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính. Giai đoạn tiếp theo, vào những năm 1960 kế toán chi phí đã chuyển hướng thành KTQT mà trọng tâm là việc cung cấp thông tin cho mục tiêu lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị bằng cách sử dụng các kỹ thuật phân tích, ra quyết định và kế toán trách nhiệm. Giai đoạn tiếp nữa, vào những năm 1980 thông tin KTQT tập trung vào việc giảm thiểu hao phí nguồn lực sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh bằng cách sử dụng kỹ thuật phân tích quá trình quản lý chi phí.
Hiện nay mục tiêu của kế toán quản trị là tạo thêm giá trị cho tổ chức thông qua việc sử dụng nguồn lực tốt nhất. Có rất nhiều quan điểm khi bàn về kế toán quản trị, chẳng hạn như: Theo Robert S. Kaplan và Anthony A.Atkinson “Kế toán quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý trong việc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của đơn vị. Hoạt động của kế toán quản trị bao gồm việc thu thập, sắp xếp, phân loại, xử lý phân tích và báo cáo thông tin cho các nhà quản trị.
Không như thông tin do kế toán tài chính cung cấp Luan van 9 cho những người sử dụng bên ngoài đơn vị như nhà đầu tư, chủ nợ nhà cung cấp và cơ quan thuế, thông tin kế toán quản trị giúp cho việc ra quyết định trong nội bộ đơn vị.1] Theo quan điểm của Giáo trình Kế toán quản trị- trường Đại học kinh tế quốc dân xuất bản năm 2002: “ Kế toán quản trị là qui trình định dạng, đo lường, tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trong phạm vi nội bộ một doanh nghiệp và để đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này”.7] Còn theo điều 4 Luật kế toán Việt Nam 2003: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”[9, Tr. Vai trò của kế toán quản trị với chức năng quản lý Các nhà quản lý là người đại diện cho tổ chức phải chịu trách nhiệm trong việc xác định mục tiêu hoạt động của tổ chức. Cho dù mục tiêu hoạt động của một tổ chức là gì đi nữa, công việc của các nhà quản lý là phải đảm bảo các mục tiêu được thực hiện. Trong quá trình theo đuổi mục tiêu của tổ chức, các nhà quản lý điều hành tổ chức thông qua bốn chức năng cơ bản đó là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá và ra quyết định.
Trong quá trình đó, KTQT có vai trò cung cấp thông tin phục vụ cho chức năng quản trị. Cụ thể như: - Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu cần đạt được và chỉ ra các bước, các công việc cần thực hiện, thời gian thực hiện và nguồn lực sử dụng để đạt được mục tiêu đó. Chức năng lập kế hoạch và xây dựng kế hoạch của nhà quản lý được thực hiện tốt, có hiệu lực và có tính khả thi cao nếu nó được xây dựng trên cơ sở các thông Luan van 10 tin phù hợp, hợp lý do bộ phận KTQT cung cấp như: thông tin cho việc định giá sản phẩm mới, thông tin cho việc lựa chọn sản xuất sản phẩm nào có lợi nhất trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay. Như vậy để kế hoạch được xây dựng trên cơ sở khoa học, thì KTQT có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin hữu ích, nhanh chóng, để giúp cho nhà quản trị trong việc ra quyết định quản lý đáp ứng mục tiêu của tổ chức.
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức thực hiện: Để kế hoạch được thực hiện có hiệu quả, nhà quản lý cần phải tổ chức triển khai nó như thế nào để đạt được mục tiểu của tổ chức. Chức năng tổ chức thực hiện bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức và truyền đạt thông tin các kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trong tuyến quản lý để thực hiện kế hoạch đó. Với chức năng này nhà quản trị phải biết cách liên kết tốt nhất giữa các bộ phận, giữa các cá nhân nhằm huy động và kết hợp các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp lại với nhau để thực hiện được các mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất. Chính vì vậy, nhà quản trị phải cần các thông tin khác nhau do nhiều bộ phận cung cấp, trong đó KTQT sẽ cung cấp chủ yếu liên quan đến kinh tế, tài chính.
Kế toán quản trị sẽ dự toán nhiều tình huấn khác nhau của các phương án khác nhau để nhà quản trị xem xét đề ra các quyết định trong quá trình tổ chức thực hiện cũng như điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo các mục tiêu chung. - Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra và đánh giá: Sau khi nhà quản trị lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch thì đòi hỏi nhà quản trị phải tổ chức kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch đó. Phương pháp thực hiện trong quá trình này là sử dụng các phương pháp chi tiết, phân tích trên cơ sở so sánh giữa số liệu kế hoạch hoặc dự toán với số liệu thực hiện, từ đó nhận biết các chênh lệch giữa kết quả thực hiện với kế hoạch, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cần giải quyết hoặc cơ hội cần khai thác. Luan van 11 - Cung cấp thông tin hỗ trợ cho quá trình ra quyết định: Thông tin của KTQT rất cần thiết cho quá trình ra quyết định.
Việc ra quyết định của nhà quản trị không phải là chức năng riêng biệt nó trong quá trình thực hiện các chức năng trên đều đòi hỏi nhà quản trị phải ra quyết định. Do vậy ra quyết định là chức năng quan trọng và xuyên suốt từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá. Chất lượng của quyết định trong quản lý phản ảnh chất lượng thông tin kế toán và thông tin khác đã được tiếp nhận. Các thông tin sẵn có thường rất nhiều loại, với chức năng này kế toán quản trị giúp các nhà quản trị phân biệt các thông tin hợp lý và không hợp lý nhằm xác định thông tin phù hợp cho từ phương án.
Việc nhận diện thông tin phù hợp giúp nhà quản trị chỉ tập trung vào những vấn đề cần giải quyết, giảm thời gian, đáp ứng việc cung cấp thông tin nhanh chóng có chất lượng giúp cho nhà quản trị xem xét, lựa chọn phương án tối ưu, có hiệu quả cao nhất, đáp ứng được yêu cầu của nhà quản trị điều hành tổ chức trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt của cơ chế thị trường hiện nay. Tổ chức KTQT hợp lý sẽ giúp cho hệ thống kế toán của đơn vị hoạt động có hiệu quả, đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích, nhanh chóng, đầy đủ. Với những thông tin đó, sẽ giúp cho nhà quản trị nhìn nhận, đánh giá, và đưa những kế hoạch kinh doanh đúng đắn. Vai trò cung cấp thông tin của KTQT rất quan trọng và có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp trong việc lựa chọn, xây dựng và điều hành phương án kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Trong điều kiện hoạt động của cơ chế thị trường hiện nay tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên khốc liệt, nó cũng đã ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động giáo dục đào tạo, nhất là giáo dục ngành, nghề trong đó có giáo dục bậc cao đẳng. Hoạt đông của các trường cao đẳng ở Việt Nam hiện nay có sự tham gia của nhiều tổ chức: nhà nước, doanh nghiêp. do vậy Nhà nước dần giao quyền tự Luan van 12 chủ cho các tổ chức đào tạo, trong đó có giao quyền tự chủ về tài chính. Để hoạt động và phát triển trong điều kiện như vậy các Trường phải có những chiến lược phát triển phù hợp, tạo thương hiệu và sự cạnh tranh để thu hút người học.
Đạt được mục tiêu trên các trường rất cần những thông tin hữu ích, đầy đủ trong đó có thông tin về tài chính để phục vụ cho việc lựa chọn các phương án, lập kế hoạch đào tạo, chiến lược phát triển của Nhà trường. Đặc điểm thông tin của kế toán quản trị Kế toán quản trị là lĩnh vực chuyên môn của ngành kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị. Thông tin KTQT đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp đó. Thông tin của KTQT là một trong những nguồn thông tin ban đầu của quá trình ra quyết định và kiểm tra trong tổ chức, có tác dụng giúp nhà quả trị các cấp trong tổ chức có những quyết định tốt hơn, qua đó cải tiến kết quả chung của tổ chức.
Thông tin KTQT là các số liệu tài chính và số liệu vật chất về các hoạt động của đơn vị, và nhấn mạnh cung cấp cho nhà quản trị bên trong doanh nghiệp. Thông tin KTQT bao gồm cả thông tin tài chính về kết quả hoạt động đã xảy ra và thông tin dự báo, nhưng đặt trọng tâm cho tương lai nhiều hơn để giúp nhà quản trị lập kế hoạch, định hướng cho hoạt động của tổ chức.