CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu trước trên thế giới [1] Nghiên cứu của Sterck và cộng sự (2005) với đề tài “The modernization of the Public Control pyramid: International trends” (tạm dịch là Sự hiện đại hóa trong sự thay đổi trong kiểm soát khu vực công: Xu hướng của thế giới) là một trong những nghiên cứu quốc tế đầu tiên về thực hành KSNB trong khu vực công và cung cấp những phát hiện thú vị về các khuôn khổ KSNB được sử dụng trong một số quốc gia được coi là người tiên phong vào thời điểm đó thông qua phương pháp nghiên cứu định tính. Ví dụ, Úc đã thiết lập một mô hình điều khiển trung tâm một cách rõ ràng đề cập đến năm thành tố của khuôn khổ KSNB Coso đầu tiên. Ở Thụy Điển, hầu hết các tổ chức công cộng sử dụng kết hợp các phương pháp khuyến cáo của chính phủ (dựa trên tiêu tiêu chuẩn Coso) cùng với các hệ thống và thủ tục cụ thể đã được phát triển có tính đến các yếu tố nội bộ như mô hình tổ chức và loại hình hoạt động thực hiện.
Trong chính phủ liên bang của Hoa Kỳ, các tiêu chuẩn về KSNB cũng dựa trên tiêu chuẩn Coso, cung cấp một khuôn khổ KSNB để xác định và giải quyết các thách thức nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường quản lý rủi ro trong nội bộ của tổ chức. Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng, tác giả đã kiểm tra những ảnh hưởng của KSNB đối với hoạt động tài chính tại các trường đại học ở Uganda. Mục tiêu là để thiết lập các mối quan hệ giữa hệ thống KSNB và hiệu quả tài chính tại các trường đại học ở Uganda. Nghiên cứu cho thấy rằng có sự tác động đáng kể của hệ thống KSNB đến hiệu quả hoạt động tài chính của các trường.
Theo đó, môi trường kiểm soát; kiểm toán nội bộ và hoạt động kiểm soát của hệ thống KSNB có tác động mạnh đến hiệu quả hoạt động tài chính của nhà trường. 5 Kiểm soát nội bộ Hiệu quả hoạt động tài chính * Môi trường kiểm soát * Tính thanh khoản * Kiểm toán nội bộ * Trách nhiệm * Hoạt động kiểm soát * Báo cáo Các biến trung gian * Chính sách của Hội đồng quản trị * Hội đồng giáo dục quốc gia * Bộ giáo dục Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu của Ssuuna Pius Mawanda (Nguồn: Ssuuna Pius Mawanda, (2008)) [3] Angella Amudo & Eno L. Đề tài đánh giá tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các dự án khu vực công được Uganda tài trợ bởi Ngân hàng Phát triển Châu Phi, bao gồm các biến độc lập là các thành phần của KSNB (bổ sung thêm biến công nghệ thông tin theo COBIT) đều có tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong các dự án và theo thứ tự từ cao đến thấp như sau: (1) môi trường kiểm soát, (2) đánh giá rủi ro, (3) hệ thống thông tin truyền thông, (4) các hoạt động kiểm soát, (5) giám sát, (6) công nghệ thông tin. Kết quả của nghiên cứu cho thấy sự thiếu hụt một số thành phần của KSNB dẫn đến kết quả vận hành của hệ thống KSNB chưa đạt được sự hữu hiệu, hay nói cách khác là cần vận hành hệ thống KSNB của một tổ chức một cách đầy đủ các yếu tố cấu thành nên nó sẽ phát huy được tính hữu hiệu tốt hơn.
Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả đã phát hiện ra rằng hoạt động KSNB trong các tổ chức công cộng Jordan còn tồn tại rất nhiều vấn đề và điều này làm cho hoạt động của hệ thống KSNB yếu kém. Nguyên nhân của sự yếu kém này chủ yếu là do thiếu lực lượng lao động có trình độ; tổ chức không tiến hành cải tiến các thành phần chính của hệ thống KSNB của đơn vị; tổ chức không có khả năng sử dụng các công cụ kỹ thuật cần thiết trong KSNB ở khía cạnh thông tin và truyền 6 thông và thiếu nhân viên chuyên nghiệp trong lĩnh vực KSNB của tổ chức, từ đó đề xuất các giải pháp để cải thiện các tồn tại trên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống KSNB cho các tổ chức công cộng tại Jordan. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy hệ thống KSNB trong khu vực công của Nigeria ảnh hưởng tích cực đến trách nhiệm giải trình tài chính. Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả khuyến nghị Chính phủ nên áp dụng hình phạt nghiêm ngặt nhằm gia tăng tính hiệu quả của hệ thống KSNB trong khu vực công của Nigeria; điều này cho thấy tác giả ưu tiên quan tâm đến việc tăng cường hiệu quả hoạt động của yếu tố môi trường kiểm soát.
Đề tài khảo sát, tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống KSNB về quản lý dự án vốn trong khu vực công ở Nigeria, từ đó tác giả khuyến cáo tuân thủ nghiêm ngặt các hoạt động KSNB ở tất cả các yếu tố cấu thành để nâng cao hiệu quả quản lý cũng như bảo đảm lợi ích của cộng đồng. Các nghiên cứu trong nước [1] Hồ Thị Thanh Ngọc (2010) với đề tài nghiên cứu “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ tại trường Cao đẳng Xây dựng số 2”. Để thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng nhóm các phương pháp nghiên cứu định tính như phương pháp khái quát, tổng hợp, phân tích, quan sát, phỏng vấn (sử dụng bảng câu hỏi – dữ liệu định tính). Đề tài đã vận dụng lý thuyết về KSNB của báo cáo COSO 1992 làm cơ sở lý luận để tìm hiểu và phân tích, đánh giá thực trạng cũng như tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong hệ thống KSNB của trường Cao Đẳng Xây dựng số 2, đồng thời để xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KSNB tại trường, đặc biệt chú trọng ở yếu tố môi trường kiểm soát; thông tin và truyền thông.
Tuy nhiên, hạn chế của đề tài này là đã không vận dụng KSNB theo hướng hướng của INTOSAI trong khu vực công. [2] Nguyễn Thị Hoàng Anh (2012) với đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Đề tài được thực hiện thông 7 qua phương pháp nghiên cứu định tính. Mục tiêu của luận văn là từ việc khảo sát thực tế nhằm phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống KSNB tại trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KSNB tại trường.
Với việc đưa ra các giải pháp và kiến nghị sẽ góp phần giúp lãnh đạo nhà trường có các biện pháp quản lý tốt hơn để phù hợp với sự phát triển không ngừng của nhà trường. Qua khảo sát tác giả cho thấy nhà trường có nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống KSNB nhưng chưa nhận thức đầy đủ nên chưa phát huy hết tác dụng của các thành phần trong hệ thống. Việc đánh giá hệ thống KSNB là cơ sở để tác giả hình thành các kiến nghị và đưa ra các đề xuất phù hợp, hữu ích nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB vận hành tốt hơn. Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả khuyến nghị từ phía nhà trường, ban giám hiệu cần cho cán bộ viên chức thấy được lợi ích của hệ thống KSNB thông qua những hành động, thái độ của mình để các thành viên trong nhà trường có thể cảm nhận được và tận tâm cùng xây dựng, vận hành hệ thống KSNB của nhà trường một cách đồng bộ qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và hiệu quả hoạt động của nhà trường.
[3] Đinh Thế Hùng và cộng sự (2013) với đề tài “Hệ thống kiểm soát nội bộ trong các trường đại học công lập Việt Nam hiện nay”. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, chủ yếu thông qua việc tổng hợp và hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về hệ thống KSNB để xác định vấn đề nghiên cứu của nhóm. Trên cơ sở đánh giá các quan điểm khác nhau vận dụng vào thực tế tại các trường đại học công lập của Việt Nam, nhóm tác giả đã đề xuất cách tiếp cận mang tính tổng thể về hệ thống KSNB với các yếu tố của hệ thống KSNB được cụ thể hóa theo quan điểm của COSO. Để đảm bảo quản lý các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, các trường đại học công lập cần phải xây dựng và thiết lập một hệ thống KSNB bộ phù hợp và hoạt động hữu hiệu.
Bài viết nghiên cứu các quan điểm khác nhau, từ đó đưa ra quan điểm về hệ thống KSNB trong trường đại học công lập và các yếu tố cơ bản cần thiết trong hệ thống KSNB tại các trường đại học công lập gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hệ thống thông tin kế toán, các thủ tục kiểm soát và giám sát. Để hệ thống KSNB hoạt động hiệu quả và hiệu lực, các yếu tố của hệ thống đều cần phải hoạt động hữu hiệu và đồng bộ. Xét về bản chất, hệ thống KSNB trong các trường đại học được biểu hiện rõ nét nhất về mặt hình thức chính là các chính sách và thủ tục kiểm soát. Các chính sách và thủ tục kiểm soát sẽ được xây dựng và vận hành trên nền tảng của nó chính là môi trường kiểm soát và hệ thống thông tin kế toán.
Các chính sách được khẳng định là thủ tục kiểm soát sẽ chỉ đảm bảo được hiệu lực hoạt 8 động và tính liên tục bằng quá trình đánh giá rủi ro và giám sát. Do đó, để đảm bảo hiệu quả hoạt động, thực hiện tốt các mục tiêu xã hội, các trường đại học công lập trong xây dựng hệ thống KSNB phải quan tâm đồng bộ đến cả năm nhân tố nêu trên. [4] Phạm Thị Hoàng (2013) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin Tp. Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, luận văn đã khái quát được lý luận KSNB theo tổ chức kiểm toán tối cao của Tổ chức Quốc tế (INTOSAI) áp dụng cho các đơn vị trong khu vực công.
Đồng thời, thông qua khảo sát, thống kê dữ liệu thực tế tại trường kết hợp lý thuyết đã tiến hành phân tích thực trạng hệ thống KSNB tại trường cao đẳng công nghệ thông tin TP.HCM, từ đó đưa ra được những nhận xét, đánh giá, giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại trường.