Luận án tiến sĩ nghiên cứu áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình tại việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình tại Việt Nam, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2016

140
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Nghiên cứu tại nước ngoài

1.2. Nghiên cứu trong nước

1.3. Nhận xét về các nghiên cứu đã thực hiện và xác định vấn đề nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN SUY GIẢM GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH

2.1. Tài sản cố định hữu hình

2.1.1. Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐHH

2.1.2. Phân loại Tài sản cố định hữu hình

2.1.3. Vai trò của Tài sản cố định trong hoạt động doanh nghiệp

2.2. Kế toán Tài sản cố định hữu hình

2.2.1. Thông tin kế toán tài chính và thông tin kế toán quản trị

2.2.2. Kế toán tài chính đối với tài sản cố định hữu hình

2.2.3. Kế toán quản trị đối với TSCĐHH

2.3. Các mô hình ghi nhận giá trị TSCĐHH

2.3.1. Lý do nghiên cứu các mô hình ghi nhận giá trị TSCĐHH trong đề tài

2.3.2. Mô hình giá gốc đối với kế toán Tài sản cố định hữu hình

2.3.3. Mô hình Giá trị hợp lý (Fair value)

2.3.4. Nhận xét về sử dụng mô hình phù hợp đối với kế toán Tài sản cố định hữu hình

2.4. Kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình

2.4.1. Mục đích của nghiệp vụ kế toán suy giảm giá trị TSCĐHH

2.4.2. Qui trình kế toán suy giảm giá trị tài sản

2.4.3. Ảnh hưởng của kế toán giảm giá trị TSCĐHH đến các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp

2.4.4. Sự khác biệt Chuẩn mực kế toán giảm giá trị tài sản theo IFRS và theo US GAAP

2.5. Phân biệt Tài sản cố định hữu hình sử dụng lâu dài với Tài sản dài hạn nắm giữ để bán và chấm dứt hoạt động ảnh hưởng tới kế toán suy giảm giá trị tài sản

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Khung phân tích của luận án

3.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án

3.2.1. Phương pháp tổng hợp, phân tích

3.2.2. Phương pháp nghiên cứu định tính

3.3. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG ÁP DỤNG KẾ TOÁN SUY GIẢM GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH TẠI VIỆT NAM

4.1. Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ảnh hưởng tới nhu cầu và khả năng áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình

4.1.1. Hội nhập kinh tế quốc tế

4.1.2. Sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam

4.1.3. Bối cảnh hội nhập kế toán

4.2. Thực trạng thông tin kế toán TSCĐHH được các doanh nghiệp Việt Nam công bố hiện nay

4.2.1. Nội dung thông tin TSCĐHH các doanh nghiệp công bố trên các Báo cáo tài chính

4.2.2. Những tồn tại thông tin kế toán về TCĐHH tại các doanh nghiệp Việt Nam

4.2.3. Ảnh hưởng của việc chưa thực hiện kế toán suy giảm giá trị TSCĐHH

4.3. Khảo sát ý kiến về áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản tài sản cố định hữu hình tại Việt Nam

4.3.1. Khảo sát doanh nghiệp

4.3.2. Khảo sát nhà đầu tư

4.3.3. Khảo sát chuyên viên tín dụng của các ngân hàng thương mại

4.3.4. Khảo sát ý kiến của Kiểm toán, chuyên gia thuộc Bộ Tài chính, chuyên viên thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước

4.4. Kết luận chương 4

5. CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP ÁP DỤNG KẾ TOÁN SUY GIẢM GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH TẠI VIỆT NAM

5.1. Quan điểm áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình tại Việt Nam

5.2. Giải pháp và kiến nghị áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình tại Việt Nam

5.2.1. Các giải pháp cụ thể đối với quá trình thực hiện kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình tại doanh nghiệp

5.2.2. Lộ trình áp dụng

5.2.3. Kiến nghị đối với các cơ quan của Nhà nước

5.2.4. Kiến nghị với kiểm toán và các công ty dịch vụ tư vấn kế toán

5.2.5. Kiến nghị đối với các đối tượng sử dụng thông tin kế toán

5.3. Kết luận chương 5

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Tóm tắt

I. Kế toán tài sản cố định

Kế toán tài sản cố định là một phần quan trọng trong hệ thống kế toán doanh nghiệp. Tài sản cố định hữu hình (TSCĐHH) được ghi nhận ban đầu theo nguyên giá và phân bổ giá trị qua khấu hao. Tuy nhiên, việc ghi nhận giá trị TSCĐHH hiện tại tại Việt Nam chưa phản ánh đúng giá trị thực của tài sản do chưa áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản. Điều này dẫn đến thông tin tài chính không chính xác, ảnh hưởng đến quyết định của các bên liên quan.

1.1. Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐHH

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, TSCĐHH phải đáp ứng các tiêu chuẩn như giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài và mang lại lợi ích kinh tế. Tuy nhiên, việc nhận biết và ghi nhận TSCĐHH hiện nay chưa xem xét đến khả năng suy giảm giá trị, dẫn đến thông tin kế toán không phản ánh đúng thực tế.

1.2. Phân loại TSCĐHH

TSCĐHH được phân loại dựa trên mục đích sử dụng và tính chất của tài sản. Việc phân loại này giúp doanh nghiệp quản lý và sử dụng tài sản hiệu quả. Tuy nhiên, việc chưa áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản khiến giá trị TSCĐHH trên báo cáo tài chính không phản ánh đúng giá trị thực, gây ra rủi ro cho người sử dụng thông tin.

II. Suy giảm giá trị tài sản

Suy giảm giá trị tài sản là hiện tượng giá trị ghi sổ của tài sản cao hơn giá trị có thể thu hồi. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 36, doanh nghiệp cần ghi nhận sự suy giảm giá trị tài sản để đảm bảo thông tin tài chính chính xác. Tại Việt Nam, việc áp dụng kế toán suy giảm giá trị TSCĐHH chưa được thực hiện, dẫn đến thông tin kế toán không đầy đủ và thiếu minh bạch.

2.1. Mục đích của kế toán suy giảm giá trị

Mục đích của kế toán suy giảm giá trị tài sản là cung cấp thông tin chính xác về giá trị thực của tài sản, giúp các đối tượng sử dụng thông tin đưa ra quyết định kinh tế hợp lý. Việc chưa áp dụng kế toán suy giảm giá trị TSCĐHH tại Việt Nam khiến thông tin tài chính không phản ánh đúng thực tế, gây ra rủi ro cho các bên liên quan.

2.2. Quy trình kế toán suy giảm giá trị

Quy trình kế toán suy giảm giá trị bao gồm việc xác định giá trị có thể thu hồi của tài sản và so sánh với giá trị ghi sổ. Nếu giá trị ghi sổ cao hơn giá trị có thể thu hồi, doanh nghiệp cần ghi nhận sự suy giảm giá trị. Tại Việt Nam, quy trình này chưa được áp dụng, dẫn đến thông tin kế toán không chính xác và thiếu minh bạch.

III. Kế toán Việt Nam và chuẩn mực quốc tế

Kế toán Việt Nam đang từng bước hội nhập với chuẩn mực kế toán quốc tế. Tuy nhiên, việc áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản chưa được thực hiện, dẫn đến thông tin kế toán không đầy đủ. Việc nghiên cứu và áp dụng kế toán suy giảm giá trị TSCĐHH tại Việt Nam là cần thiết để đảm bảo thông tin tài chính chính xác và minh bạch.

3.1. Sự khác biệt giữa VAS và IFRS

Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)chuẩn mực kế toán quốc tế (IFRS) có sự khác biệt trong việc ghi nhận và đánh giá tài sản. Trong khi IFRS yêu cầu ghi nhận sự suy giảm giá trị tài sản, VAS chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Sự khác biệt này khiến thông tin kế toán tại Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu của thị trường quốc tế.

3.2. Lộ trình áp dụng kế toán suy giảm giá trị

Để áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản tại Việt Nam, cần có lộ trình cụ thể bao gồm việc nghiên cứu, xây dựng quy định và đào tạo nhân lực. Việc áp dụng này sẽ giúp cải thiện chất lượng thông tin kế toán, tăng cường tính minh bạch và công khai trong báo cáo tài chính.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Nghiên cứu tại nước ngoài Vấn đề kế toán suy giảm giá trị tài sản được nghiên cứu từ rất sớm. Theo Erlen (2005), từ cuối thế kỷ thứ 19 nhiều học giả đã nhận thấy khấu hao không phản ánh được sự thay đổi giá trị hiện tại của tài sản cố định, do nhiều nguyên nhân khác nhau công ty còn phát sinh các khoản chi phí bất thường đối với tài sản cố định làm giảm giá trị tài sản cố định một cách không mong đợi. Việc ghi nhận những khoản chi phí không mong đợi này đã được chấp nhận trong thực tiễn công tác kế toán nhưng đến đầu thế kỷ thứ 20 vẫn chưa được ban hành qui định chính thức. Đến năm 1937, Luật công ty của Đức cho phép ghi giảm giá trị tài sản, và sau đó nhiều tác giả yêu cầu phải thực hiện kế toán giảm giá trị tài sản.

Qui định ghi giảm giá trị tài sản chỉ chính thức được ban hành trong Luật công ty Đức năm 1965. Kế toán suy giảm giá trị tài sản là một vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản trị trong doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu, và các nhà ban hành qui định, chuẩn mực kế toán vì những lý do chính sau đây. Thứ nhất, ghi giảm giá trị tài sản làm ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ tiêu tài sản, vốn chủ sở hữu, thu nhập của doanh nghiệp trong kỳ kế toán thực hiện nghiệp vụ và các kỳ kế toán sau. Thứ hai, nghiệp vụ kế toán giảm giá trị tài sản dựa trên các ước tính kế toán không chắc chắn do đó dễ bị lợi dụng theo ý đồ chủ quan của người thực hiện.

Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP) cho phép công ty xử lý một cách linh hoạt về mặt kế toán đối với giảm giá trị tài sản cố định. Đồng thời, sự ra đời của chuẩn mực kế toán giảm giá trị tài sản và thực tiễn kế toán áp dụng chuẩn mực trên Thế giới đã khuấy động trào lưu nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu tại nước ngoài có liên quan đến đề tài, tác giả đã thu thập được các công trình nghiên cứu chủ yếu dưới hình thức bài báo nghiên cứu. Hầu hết các bài báo nghiên cứu này đều đưa ra các kết luận dựa trên bằng chứng từ các nghiên cứu định lượng.

Số liệu sử dụng trong các nghiên cứu định lượng có đặc điểm là được lấy từ các nước đã thực hiện kế toán giảm giá trị tài sản. Tổng hợp kết quả nghiên cứu kế toán giảm giá trị tài sản trên Thế giới tập trung vào các vấn đề lớn sau đây: 9 Thứ nhất là nghiên cứu động lực chi phối quyết định ghi nhận giảm giá trị tài sản của các nhà quản trị trong doanh nghiệp. Trước hết, động cơ tích cực theo đúng mong đợi của các nhà ban hành chuẩn mực kế toán đó là nhà quản lý quyết định ghi giảm gía trị tài sản nhằm cung cấp thông về giá trị thực của doanh nghiệp. Thực hiện kế toán ghi giảm giá trị tài sản theo động cơ này sẽ giúp cho các đối tượng sử dung thông tin kế toán dự báo luồng tiền tương lai, tăng cường tính minh bạch của số liệu kế toán.

Trong khi đó, một số nghiên cứu đã chỉ rằng, nghiệp vụ kế toán ghi giảm giá trị tài sản mang nặng tính chủ quan, phụ thuộc vào hành vi điều khiển thu nhập của các nhà quản trị doanh nghiệp. Không ít nhà quản lý sử dụng nghiệp vụ kế toán này như một cơ hội để điều chỉnh thu nhập của công ty. Công ty có thu nhập cao điều khiển giảm thu nhập bằng cách ghi giảm giá trị tài sản đối với một số khoản mục tài sản đặc biệt. Ngược lại, danh mục tài sản ghi giảm giá thu hẹp lại sẽ làm cho thu nhập của công ty được gia tăng.

Strong và Meyer (1987) đã chỉ ra, không có sự khác biệt về tình hình tài chính giữa các công ty ghi nhận giảm giá tài sản và các công ty không ghi nhận giảm giá tài sản. Ghi nhận giảm giá tài sản chủ yếu được thực hiện khi kết quả kinh doanh được cải thiện. Riedl (2004) cũng có kết luận tương tự đó là lý do các nhà quản lý ghi nhận giảm giá tài sản chủ yếu là do hành vi cơ hội hơn là do các yếu tố kinh tế như sự thay đổi của doanh thu, thu nhập, và luồng tiền. Bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã đưa kinh tế không chắc chắn trở thành một vấn đề đáng quan tâm hơn bao giờ hết.

Ghi giảm giá trị tài sản được đánh giá làm giảm mức độ không chắc chắn đối với thông tin kế toán về tài sản cố định. Samir Vanza và cộng sự (2011) đã dựa trên mẫu gồm 647 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Úc trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2009 có chỉ số giảm giá trị tài sản để nghiên cứu sâu về vấn đề các công ty thực hiện IAS 36, kết quả cho thấy không có chứng cứ về mức độ không chắc chắn của giá trị của công ty ảnh hưởng tới quyết định ghi giảm giá trị tài sản. Trong khi đó hành vi cơ hội được xác định là động cơ ghi giảm giá trị tài sản. Nhóm nghiên cứu đã tìm ra chứng cứ rằng trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ghi giảm giá trị tài sản nhằm giảm mức độ không chắc chắn đối với giá trị của doanh nghiệp.

Nhưng trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thời kỳ giá trị của doanh nghiệp càng không chắc chắn, kết quả nghiên cứu là ngược lại. Qua các nghiên cứu trên có thể kết luận rằng mục đích nghiệp vụ kế toán ghi nhận giá trị tài sản là giá trị tài sản, giá trị doanh nghiệp phải được điều chỉnh giảm khi có các dấu hiệu kinh tế suy giảm, tuy nhiên đây là một nghiệp vụ mang nặng tính ước tính của kế toán , theo phán xét chủ quan của các nhà quản trị doanh nghiệp nên 10 dễ bị lợi dụng, thiên vị, trở thành hành vi điều khiển thu nhập của các nhà quản trị doanh nghiệp. Vấn đề nghiên cứu này là một bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi thực hiện kế toán giảm giá trị TSCĐHH cần thiết phải có biện pháp hạn chế hành vi cơ hội, lợi dụng để nghiệp vụ kế toán phát huy tác dụng theo đúng mong đợi của nhà ban hành chuẩn mực. Thứ hai là vấn đề mối quan hệ giữa quyết định ghi giảm giá trị tài sản với chất lượng quản trị doanh nghiệp.

Nghiệp vụ kế toán ghi giảm giá trị tài sản thuộc nhiều vào đánh giá của các nhà quản trị nội bộ doanh nghiệp về hiệu quả sử dụng của tài sản trong tương lai. Quản trị doanh nghiệp tốt thường có sự đánh giá khách quan về tài sản và không né tránh ghi nhận giảm giá tài sản khi có dấu hiệu. Nghiên cứu của Minnick (2004) đã cho kết quả là chất lượng quản trị doanh nghiệp có mối liên hệ thuận chiều với quyết định ghi giảm giá trị tài sản. Quản trị doanh nghiệp yếu kém sẽ đợi đến khi không thể tránh được ghi giảm giá trị tài sản.

Ngược lại, quản trị doanh nghiệp tốt sẽ thực hiện nghiệp vụ kế toán này sớm, khi bắt đầu nhận thấy có dấu hiệu kinh tế suy giảm. Wei-Heng Lin (2008) đã sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Đài Loan năm 2004, năm 2005. Đài Loan đã ban hành Chuẩn mực kế toán giảm giá trị tài sản (SFAS No.35) vào tháng 7 năm 2004 và có hiệu lực từ năm 2006, nhưng khuyến khích các công ty áp dụng sớm. Wei-Heng Lin đã chia thành hai nhóm: các công ty thực hiện kế toán giảm giá trị tài sản ngay từ năm 2004 thuộc nhóm áp dụng sớm; các công ty áp dụng năm 2005 thuộc nhóm áp dụng muộn.

Hai câu hỏi đã đặt ra và khảo sát trong nghiên cứu. Câu hỏi thứ nhất đó là mối quan hệ giữa ghi giảm giá trị tài sản và động cơ điều khiển thu nhập được so sánh giữa nhóm công ty áp dụng kế toán giảm giá trị tài sản sớm và nhóm công ty áp dụng muộn. Câu hỏi thứ hai là có hay không mối liên hệ giữa quyết định ghi giảm giá trị tài sản và quản trị doanh nghiệp trong sự so sánh giữa nhóm công ty áp dụng sớm và áp dụng muộn. Kết quả cho thấy, nhóm công ty thực hiện sớm kế toán giảm giá trị tài sản có quản trị doanh nghiệp tốt hơn và ít có hành vi điều khiển thu nhập hơn nhóm áp dụng muộn.

Từ các kết quả nghiên cứu trên tác gỉa nhận thấy doanh nghiệp có chất lượng quản trị tốt sẽ không né tránh nghiệp vụ ghi giảm giá trị tài sản khi có dấu hiệu kinh tế suy giảm. Trong khi đó, quản trị doanh nghiệp yếu sẽ tìm lý do để che đậy thông tin, trì hoãn ghi giảm giá giá trị tài sản. Từ đó, những doanh nghiệp có công bố thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến giảm giá trị tài sản của công ty và quyết định ghi giảm giá trị tài sản thể hiện trách nhiệm và chất lượng cao của quản trị doanh nghiệp. 11 Thứ ba là nghiên cứu ảnh hưởng của qui định có cho phép hay không ghi đảo ngược giá trị tài sản đã ghi giảm khi có dấu hiệu phục hồi kinh tế đến quyết định ghi giảm giá trị tài sản.

Xử lý của kế toán đối với ghi đảo ngược giảm giá trị tài sản cũng là một vấn đề quan trọng thu hút các nghiên cứu trên thế giới. Theo Nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận rộng rãi của Mỹ (U.S – GAAP), giảm giá trị tài sản không được ghi đảo ngược trong tương lai mặc dù dòng tiền mong đợi trong tương lai vượt giá trị ghi sổ của tài sản đã được ghi giảm giá. Ngược lại, trong tình huống trên chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 36) yêu cầu ghi đảo ngược giá trị tài sản giảm khi đã có dấu hiệu phục hồi. Việc cho phép ghi đảo ngược giá trị tài sản bị giảm khi có dấu hiệu phục hồi cũng có tác động tích cực và tiêu cực.

Ghi đảo ngược giá trị tài sản đã bị giảm có mối quan hệ với những dấu hiệu kinh tế liên quan đến tài sản được phục hồi và làm tăng giá trị của tài sản. Ngược lại, cho phép ghi đảo ngược giá trị tài sản bị suy giảm là một điều kiện thuận lợi để nhà quản lý điều khiển thu nhập qua các kỳ kế toán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu áp dụng kế toán suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình tại Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích và đánh giá các phương pháp kế toán liên quan đến suy giảm giá trị tài sản cố định hữu hình trong bối cảnh Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các quy định pháp lý hiện hành mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài sản, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa giá trị tài sản và tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc tế. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, kế toán viên và nhà nghiên cứu quan tâm đến lĩnh vực kế toán tài sản cố định.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Đồ án hcmute quy trình kiểm toán tài sản cố định tại công ty tnhh kiểm toán tư vấn rồng việt, nghiên cứu này cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình kiểm toán tài sản cố định. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần cơ khí đông anhLuận văn thạc sĩ hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần công nghệ hợp long cũng là những tài liệu đáng chú ý, giúp bạn hiểu rõ hơn về cách tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài sản trong các doanh nghiệp cụ thể.