CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Nghiên cứu tại nước ngoài Vấn đề kế toán suy giảm giá trị tài sản được nghiên cứu từ rất sớm. Theo Erlen (2005), từ cuối thế kỷ thứ 19 nhiều học giả đã nhận thấy khấu hao không phản ánh được sự thay đổi giá trị hiện tại của tài sản cố định, do nhiều nguyên nhân khác nhau công ty còn phát sinh các khoản chi phí bất thường đối với tài sản cố định làm giảm giá trị tài sản cố định một cách không mong đợi. Việc ghi nhận những khoản chi phí không mong đợi này đã được chấp nhận trong thực tiễn công tác kế toán nhưng đến đầu thế kỷ thứ 20 vẫn chưa được ban hành qui định chính thức. Đến năm 1937, Luật công ty của Đức cho phép ghi giảm giá trị tài sản, và sau đó nhiều tác giả yêu cầu phải thực hiện kế toán giảm giá trị tài sản.
Qui định ghi giảm giá trị tài sản chỉ chính thức được ban hành trong Luật công ty Đức năm 1965. Kế toán suy giảm giá trị tài sản là một vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản trị trong doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu, và các nhà ban hành qui định, chuẩn mực kế toán vì những lý do chính sau đây. Thứ nhất, ghi giảm giá trị tài sản làm ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ tiêu tài sản, vốn chủ sở hữu, thu nhập của doanh nghiệp trong kỳ kế toán thực hiện nghiệp vụ và các kỳ kế toán sau. Thứ hai, nghiệp vụ kế toán giảm giá trị tài sản dựa trên các ước tính kế toán không chắc chắn do đó dễ bị lợi dụng theo ý đồ chủ quan của người thực hiện.
Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi (GAAP) cho phép công ty xử lý một cách linh hoạt về mặt kế toán đối với giảm giá trị tài sản cố định. Đồng thời, sự ra đời của chuẩn mực kế toán giảm giá trị tài sản và thực tiễn kế toán áp dụng chuẩn mực trên Thế giới đã khuấy động trào lưu nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu tại nước ngoài có liên quan đến đề tài, tác giả đã thu thập được các công trình nghiên cứu chủ yếu dưới hình thức bài báo nghiên cứu. Hầu hết các bài báo nghiên cứu này đều đưa ra các kết luận dựa trên bằng chứng từ các nghiên cứu định lượng.
Số liệu sử dụng trong các nghiên cứu định lượng có đặc điểm là được lấy từ các nước đã thực hiện kế toán giảm giá trị tài sản. Tổng hợp kết quả nghiên cứu kế toán giảm giá trị tài sản trên Thế giới tập trung vào các vấn đề lớn sau đây: 9 Thứ nhất là nghiên cứu động lực chi phối quyết định ghi nhận giảm giá trị tài sản của các nhà quản trị trong doanh nghiệp. Trước hết, động cơ tích cực theo đúng mong đợi của các nhà ban hành chuẩn mực kế toán đó là nhà quản lý quyết định ghi giảm gía trị tài sản nhằm cung cấp thông về giá trị thực của doanh nghiệp. Thực hiện kế toán ghi giảm giá trị tài sản theo động cơ này sẽ giúp cho các đối tượng sử dung thông tin kế toán dự báo luồng tiền tương lai, tăng cường tính minh bạch của số liệu kế toán.
Trong khi đó, một số nghiên cứu đã chỉ rằng, nghiệp vụ kế toán ghi giảm giá trị tài sản mang nặng tính chủ quan, phụ thuộc vào hành vi điều khiển thu nhập của các nhà quản trị doanh nghiệp. Không ít nhà quản lý sử dụng nghiệp vụ kế toán này như một cơ hội để điều chỉnh thu nhập của công ty. Công ty có thu nhập cao điều khiển giảm thu nhập bằng cách ghi giảm giá trị tài sản đối với một số khoản mục tài sản đặc biệt. Ngược lại, danh mục tài sản ghi giảm giá thu hẹp lại sẽ làm cho thu nhập của công ty được gia tăng.
Strong và Meyer (1987) đã chỉ ra, không có sự khác biệt về tình hình tài chính giữa các công ty ghi nhận giảm giá tài sản và các công ty không ghi nhận giảm giá tài sản. Ghi nhận giảm giá tài sản chủ yếu được thực hiện khi kết quả kinh doanh được cải thiện. Riedl (2004) cũng có kết luận tương tự đó là lý do các nhà quản lý ghi nhận giảm giá tài sản chủ yếu là do hành vi cơ hội hơn là do các yếu tố kinh tế như sự thay đổi của doanh thu, thu nhập, và luồng tiền. Bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã đưa kinh tế không chắc chắn trở thành một vấn đề đáng quan tâm hơn bao giờ hết.
Ghi giảm giá trị tài sản được đánh giá làm giảm mức độ không chắc chắn đối với thông tin kế toán về tài sản cố định. Samir Vanza và cộng sự (2011) đã dựa trên mẫu gồm 647 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Úc trong thời gian từ năm 2007 đến năm 2009 có chỉ số giảm giá trị tài sản để nghiên cứu sâu về vấn đề các công ty thực hiện IAS 36, kết quả cho thấy không có chứng cứ về mức độ không chắc chắn của giá trị của công ty ảnh hưởng tới quyết định ghi giảm giá trị tài sản. Trong khi đó hành vi cơ hội được xác định là động cơ ghi giảm giá trị tài sản. Nhóm nghiên cứu đã tìm ra chứng cứ rằng trước khủng hoảng kinh tế toàn cầu, ghi giảm giá trị tài sản nhằm giảm mức độ không chắc chắn đối với giá trị của doanh nghiệp.
Nhưng trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thời kỳ giá trị của doanh nghiệp càng không chắc chắn, kết quả nghiên cứu là ngược lại. Qua các nghiên cứu trên có thể kết luận rằng mục đích nghiệp vụ kế toán ghi nhận giá trị tài sản là giá trị tài sản, giá trị doanh nghiệp phải được điều chỉnh giảm khi có các dấu hiệu kinh tế suy giảm, tuy nhiên đây là một nghiệp vụ mang nặng tính ước tính của kế toán , theo phán xét chủ quan của các nhà quản trị doanh nghiệp nên 10 dễ bị lợi dụng, thiên vị, trở thành hành vi điều khiển thu nhập của các nhà quản trị doanh nghiệp. Vấn đề nghiên cứu này là một bài học kinh nghiệm cho Việt Nam khi thực hiện kế toán giảm giá trị TSCĐHH cần thiết phải có biện pháp hạn chế hành vi cơ hội, lợi dụng để nghiệp vụ kế toán phát huy tác dụng theo đúng mong đợi của nhà ban hành chuẩn mực. Thứ hai là vấn đề mối quan hệ giữa quyết định ghi giảm giá trị tài sản với chất lượng quản trị doanh nghiệp.
Nghiệp vụ kế toán ghi giảm giá trị tài sản thuộc nhiều vào đánh giá của các nhà quản trị nội bộ doanh nghiệp về hiệu quả sử dụng của tài sản trong tương lai. Quản trị doanh nghiệp tốt thường có sự đánh giá khách quan về tài sản và không né tránh ghi nhận giảm giá tài sản khi có dấu hiệu. Nghiên cứu của Minnick (2004) đã cho kết quả là chất lượng quản trị doanh nghiệp có mối liên hệ thuận chiều với quyết định ghi giảm giá trị tài sản. Quản trị doanh nghiệp yếu kém sẽ đợi đến khi không thể tránh được ghi giảm giá trị tài sản.
Ngược lại, quản trị doanh nghiệp tốt sẽ thực hiện nghiệp vụ kế toán này sớm, khi bắt đầu nhận thấy có dấu hiệu kinh tế suy giảm. Wei-Heng Lin (2008) đã sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Đài Loan năm 2004, năm 2005. Đài Loan đã ban hành Chuẩn mực kế toán giảm giá trị tài sản (SFAS No.35) vào tháng 7 năm 2004 và có hiệu lực từ năm 2006, nhưng khuyến khích các công ty áp dụng sớm. Wei-Heng Lin đã chia thành hai nhóm: các công ty thực hiện kế toán giảm giá trị tài sản ngay từ năm 2004 thuộc nhóm áp dụng sớm; các công ty áp dụng năm 2005 thuộc nhóm áp dụng muộn.
Hai câu hỏi đã đặt ra và khảo sát trong nghiên cứu. Câu hỏi thứ nhất đó là mối quan hệ giữa ghi giảm giá trị tài sản và động cơ điều khiển thu nhập được so sánh giữa nhóm công ty áp dụng kế toán giảm giá trị tài sản sớm và nhóm công ty áp dụng muộn. Câu hỏi thứ hai là có hay không mối liên hệ giữa quyết định ghi giảm giá trị tài sản và quản trị doanh nghiệp trong sự so sánh giữa nhóm công ty áp dụng sớm và áp dụng muộn. Kết quả cho thấy, nhóm công ty thực hiện sớm kế toán giảm giá trị tài sản có quản trị doanh nghiệp tốt hơn và ít có hành vi điều khiển thu nhập hơn nhóm áp dụng muộn.
Từ các kết quả nghiên cứu trên tác gỉa nhận thấy doanh nghiệp có chất lượng quản trị tốt sẽ không né tránh nghiệp vụ ghi giảm giá trị tài sản khi có dấu hiệu kinh tế suy giảm. Trong khi đó, quản trị doanh nghiệp yếu sẽ tìm lý do để che đậy thông tin, trì hoãn ghi giảm giá giá trị tài sản. Từ đó, những doanh nghiệp có công bố thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến giảm giá trị tài sản của công ty và quyết định ghi giảm giá trị tài sản thể hiện trách nhiệm và chất lượng cao của quản trị doanh nghiệp. 11 Thứ ba là nghiên cứu ảnh hưởng của qui định có cho phép hay không ghi đảo ngược giá trị tài sản đã ghi giảm khi có dấu hiệu phục hồi kinh tế đến quyết định ghi giảm giá trị tài sản.
Xử lý của kế toán đối với ghi đảo ngược giảm giá trị tài sản cũng là một vấn đề quan trọng thu hút các nghiên cứu trên thế giới. Theo Nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận rộng rãi của Mỹ (U.S – GAAP), giảm giá trị tài sản không được ghi đảo ngược trong tương lai mặc dù dòng tiền mong đợi trong tương lai vượt giá trị ghi sổ của tài sản đã được ghi giảm giá. Ngược lại, trong tình huống trên chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 36) yêu cầu ghi đảo ngược giá trị tài sản giảm khi đã có dấu hiệu phục hồi. Việc cho phép ghi đảo ngược giá trị tài sản bị giảm khi có dấu hiệu phục hồi cũng có tác động tích cực và tiêu cực.
Ghi đảo ngược giá trị tài sản đã bị giảm có mối quan hệ với những dấu hiệu kinh tế liên quan đến tài sản được phục hồi và làm tăng giá trị của tài sản. Ngược lại, cho phép ghi đảo ngược giá trị tài sản bị suy giảm là một điều kiện thuận lợi để nhà quản lý điều khiển thu nhập qua các kỳ kế toán.