Chương 1 trình bày những thông tin về công ty TNHH Kiểm Toán Vũng Tàu (VAC). Qua đây chúng ta hiểu rõ hơn về Công ty, nắm được đặc điểm hoạt động và quy trình kiểm toán chung của Công ty TNHH Kiểm Toán Vũng Tàu (VAC). Bên cạnh đó, chúng ta biết được tình hình hoạt động kinh doanh của VAC qua các năm từ đó có thể liên hệ với thực tế về vai trò quan trọng của kiểm toán BCTC trong xu thế kinh doanh cũng như tình hình kinh tế hiện nay. 13 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 2.
NỘI DUNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA KHOẢN MỤC 2. Nội dung Tài sản cố định (TSCĐ) được trình bày trên bảng cân đối kế toán tại phần B, Tài sản dài hạn, chủ yếu bao gồm TSCĐ hữu hình,TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính và bất động sản đầu tư. - Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu có hình thái vật chất, có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái, vật chất ban đầu. TSCĐ thường được phân thành các chi tiết như: Nhà xưởng, vật kiến trúc – Máy móc thiết bị - Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn – Thiết bị… - Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư có liên quan trực tiếp đến chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài sản cố định vô hình bao gồm các loại như: Quyền sử dụng đất có thời hạn – Nhãn hiệu hàng hóa - Quyền phát hành - Phần mềm máy vi tính - Giấy phép và giấy phép chuyển nhượng - Bản quyền, bằng sáng chế - Công thức và cách thức pha chế, kiểu mẫu, thiết kế và mẫu vật – Tài sản vô hình đang trong giai đoạn triển khai… - Tài sản cố định thuê tài chính: Là tài sản cố định đã được bên cho thuê chuyển giao phần lớn lợi ích và rủi ro gắn với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê; quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. Như vậy, dù chưa thuộc quyền sở hữu của bên thuê, nhưng do đặc điểm trên, tài sản thuê tài chính vẫn được ghi nhận là tài sản của bên thuê. - Bất động sản đầu tư: Là các bất động sản mà doanh nghiệp nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá chứ không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ, cho mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ sản xuất, kinh doanh thông thường. Bất động sản đầu tư thường bao gồm quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng cho thuê tài chính.
Đặc điểm TSCĐ là khoản mục có giá trị lớn, thường chiếm tỷ trọng đáng kể so với tổng tài sản trên Bảng cân đối kế toán. Tuy nhiên, việc Kiểm toán TSCĐ thường không chiếm nhiều thời gian vì: - Số lượng TSCĐ thường không nhiều và từng đối tượng có giá trị lớn. - Số lượng nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ trong năm thường không nhiều - Vấn đề khóa sổ cuối năm không phức tạp như tài sản ngắn hạn do khả năng xảy ra nhầm lẫn trong ghi nhận các nghiệp vụ về TSCĐ giữa các niên độ thường không cao. Đối với chi phí khấu hao, khác với các chi phí thông thường khác, việc Kiểm toán có hai đặc điểm riêng như sau: - Trước hết, chí phí khấu hao là một khoản ước tính kế toán, chứ không phải là chi phí thực tế phát sinh.
Bởi vì mức khấu hao phụ thuộc vào ba nhân tố là nguyên giá, giá trị thanh lý ước tính và thời gian sử dụng hữu ích; trong đó nguyên giá là nhân tố khách quan, còn giá trị thanh lý và thời gian sử dụng hữu ích lại căn cứ theo ước tính của đơn vị. Vì vậy, việc kiểm toán chi phí khấu hao mang tính chất kiểm tra một khoản ước tính kế toán hơn là một chi phí phát sinh thực tế, nghĩa là không thể dựa vào các chứng từ, tài liệu để tính toán chính xác được. - Thứ hai, do chi phí khấu hao là một sự phân bổ có hệ thống của nguyên giá sau khi trừ giá trị thanh lý ước tính nên sự hợp lý của nó còn phụ thuộc vào phương pháp khấu hao được sử dụng. Vì vậy, Kiểm toán chi phí khấu hao còn mang tính chất của sự kiểm tra về việc áp dụng phương pháp kế toán.
Mục tiêu Kiểm toán - Các TSCĐ đã được ghi chép là có thật và đơn vị có quyền đối với chúng (Hiện hữu, Quyền). - Mọi TSCĐ của đơn vị đều được ghi nhận (Đầy đủ). - Các TSCĐ phản ánh trên sổ chi tiết đã được ghi chép đúng, tổng cộng đúng và phù hợp với tài khoản tổng hợp trên sổ cái (Ghi chép chính xác). - Các TSCĐ được đánh giá phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (Đánh giá).
- Sự trình bày và khai báo TSCĐ – gồm cả việc phương pháp tính khấu hao - là đầy đủ và phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (Trình bày và Công bố). 15 Đối với chi phí khấu hao (CPKH), mục tiêu Kiểm toán chủ yếu là xem xét sự đúng đắn trong việc xác định múc khấu hao và phân bổ cho các đối tượng có liên quan. Điều này phụ thuộc vào phương pháp khấu hao cũng như các dữ liệu làm cơ sở cho việc tính toán và tiêu thức phân bổ chi phí khấu hao. Đối với giá trị hao mòn lũy kế, mục tiêu kiểm toán là xem xét việc ghi nhận đầy đủ và đúng đắn giá trị hao mòn lũy kế tăng lên do khấu hao, giá trị hao mòn lũy kế do thanh lý, nhượng bán TSCĐ cũng như việc phản ánh chính xác vào từng đối tượng tài sản cụ thể.
KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI TSCĐ VÀ CHI PHÍ KHẤU HAO 2. Mục đích của kiểm soát nội bộ đối với TSCĐ và CPKH - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào TSCĐ thông qua việc đầu tư đúng mục đích, không lãng phí, cũng như quản lý và sử dụng có hiệu quả TSCĐ. - Hạch toán đúng đắn các chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sửa chữa, CPKH 2. Các thủ tục kiểm soát TSCĐ và CPKH Các thủ tục kiểm soát thường được thường được xây dựng dựa trên những nguyên tắc sau: 2.
Áp dụng nguyên tắc phân chia trách nhiệm giữa các chức năng Bảo quản, ghi sổ, phê chuẩn và thực hiện việc mua, thanh lý, nhượng bán TSCĐ. Kế hoạch và dự toán về TSCĐ Các công ty lớn hằng năm thường thiết lập kế hoạch và dự toán ngân sách cho TSCĐ. Kế hoạch thường bao gồm những nội dung về mua sắm, thanh lý, nhượng bán TSCĐ và nguồn vốn tài trợ cho kế hoạch này. Nhìn chung, kế hoạch và dự toán là công cụ quan trọng để kiểm soát đối với TSCĐ.
Chính nhờ kế hoạch và dự toán, doanh nghiệp sẽ phải rà soát lại toàn bộ tình trạng TSCĐ hiện có và mức độ sử dụng chúng, đối chiếu với kế hoạch sản xuất của năm kế hoạch. Quá trình cân đối giữa các phương án khác nhau với nguồn tài trợ cũng là quá trình đơn vị tự rà soát lại các nguồn lực và xem xét chi tiết để đánh giá từng phương án. Các công cụ kiểm soát khác - Hệ thống sổ chi tiết TSCĐ: Đơn vị cần mở sổ chi tiết cho từng loại TSCĐ bao gồm sổ chi tiết, thẻ chi tiết, hồ sơ chi tiết. Hồ sơ chi tiết gồm: biên bản giao nhận TSCĐ , hợp đồng, hóa đơn mua TSCĐ và các chứng từ khác có liên quan.
TSCĐ phải được phân loại, thống kê, đánh số và có thẻ riêng, cần theo dõi chi tiết đối tượng ghi TSCĐ và phản ánh trong sổ theo dõi TSCĐ. Một hệ thống sổ chi tiết đầy đủ sẽ giúp phân tích và quản lý dễ dàng TSCĐ tăng hay giảm trong năm. Từ đó có thể giúp bảo vệ hữu hiệu tài sản, phát hiện kịp thời những mất mát hay thiếu hụt tài sản, giúp đơn vị sử dụng TSCĐ hữu hiệu và hiệu quả. Ngoài ra, nhờ hệ thống sổ chi tiết có thể so sánh giữa chi phí thực tế phát sinh của từng loại TSCĐ kế hoạch.
- Thủ tục mua sắm TSCĐ: Nhằm đảm bảo việc đầu tư TSCĐ đạt hiệu quả, nhiều doanh nghiệp thường xây dựng chính sách chung về vấn đề này, chẳng hạn quy định về những thủ tục cần thiết khi mua sắm TSCĐ. Thí dụ, mọi trường hợp mua sắm TSCĐ phải được người có thẩm quyền xét duyệt, phải phù hợp với kế hoạch và dự toán, phải tổ chức đấu thầu ( đối với tài sản có giá trị cao), phải tuân theo các tiêu chuẩn chung về bàn giao tài sản, về nghiệm thu tài sản và chi trả tiền… - Thủ tục thanh lý hay nhượng bán TSCĐ: Doanh nghiệp cần xây dựng các quy định về thanh lý tài sản, chẳng hạn mọi trường hợp thanh lý, nhượng bán tài sản đều phải được sự đồng ý của các bộ phận của các bộ phận có liên quan, phải thành lập hội đồng thanh lý gồm các thành viên theo quy định… - Các quy định về phân biệt giữa các khoản chi được tính vào nguyên giá cùa TSCĐ, hay phải tính vào chi phí của niên độ: doanh nghiệp nên thiết lập tiêu chuẩn để phân biệt hai khoản này, tiêu chuẩn cần dựa trên chuẩn mực hay chế độ kế toán hiện hành và cụ thể hóa theo đặc thù của đơn vị. - Chế độ kiểm kê định kỳ TSCĐ: nhằm kiểm tra về sự hiện hữu, địa điểm đặt tài sản, điều kiện sử dụng, cũng như phát hiện các tài sản để ngoài sổ sách, hoặc bị thiếu hụt, mất mát… - Các quy định bảo vệ vật chất đối với TSCĐ: thiết kế và áp dụng các biện pháp bảo vệ tài sản, chống trộm cắp, hỏa hoạn, mua bảo hiểm đầy đủ cho tài sản… - Các quy định về tính khấu hao: Thông thường thời gian tính khấu hao đối với từng loại TSCĐ phải được Ban giám đốc phê duyệt trước khi áp dụng. KIỂM TOÁN TSCĐ VÀ CHI PHÍ KHẤU HAO 2.
Nghiên cứu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ 2. Tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) Mục đích kiểm soát nội bộ đối với TSCĐ: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào TSCĐ thông qua việc đầu tư đúng mục đích, không lãng phí và quản lý, sử dụng có hiệu quả TSCĐ. KSNB còn giúp hạch toán đúng đắn các chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sữa chữa, CPKH.