Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Đại Hoàng Dương. Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ở Công ty trách nhiệm hữu hạn Đại Hoàng Dương.
2 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan nghiên cứu Với các nhà nghiên cứu, các học viên phân tích tài chính cũng như làm thế nào để nâng cao hiệu quả quản lý vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của các doanh nghiệp luôn là những chủ đề không cũ. Bên cạnh đó, với số lượng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, quyết định tạo nên cơ sở hạ tầng cho quốc gia, đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốc nội, các công ty xây dựng cũng là những đối tượng được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu, phân tích. Có thể kể đến như : Tác giả Phan Hồng Mai trong “Quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam”, luận án Tiến sỹ kinh tế năm 2012, lưu tại Đại học Kinh tế quốc dân. Trong luận án, tác giả đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản về quản lý tài sản tại doanh nghiệp ngành xây dựng nói chung, trong đó tập trung làm rõ khái niệm “Quản lý tài sản tại doanh nghiệp” và chi tiết các công việc cần giải quyết, với thời điểm bắt đầu và kết thúc cụ thể.
Trên cơ sở lý luận đó, bằng các phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng tác giả đã phân tích thực trạng quản lý tài sản tại 104 Công ty cổ phần ngành xây dựng đã niêm yết tại Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2010 qua các chỉ tiêu về quản lý tiền, quản lý các khoản phải thu, quản lý hàng tồn kho và quản lý tài sản cố định. Từ đó chỉ ra những kết quả đạt được là : (i) năng lực thanh toán khá tốt ; (ii) ROA và ROE bình quân ngành cao và đặc biệt trong năm 2010 cao hơn các công ty cổ phần niêm yết của các ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng, tài chính và viễn thông. Bên cạnh đó là những hạn chế như : (i) kỳ thu tiền bình quân dài ; (ii) khả năng thanh toán có xu hướng giảm thấp ; (iii) hệ số sinh lời tài sản cố định nhỏ ; (iv) ROA và ROE có xu hướng giảm. Từ đó, tác giả khuyến nghị những giải pháp tăng cường quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành niêm yết như sau :(i) Ứng dụng mô hình Miller – Orr vào quản lý ngân quỹ ;(ii) sử dụng kết hợp phần mềm trong quản 3 z lý và kế toán công nợ, hàng tồn kho và TSCĐ ; (iii) nhóm các giải pháp bổ trợ.
Tác giả Lê Hoàng Vinh trong “Cơ cấu vốn và rủi ro tài chính trong doanh nghiệp” Luận án Tiến sĩ năm 2014, lưu tại Đại học Ngân hàng, thành phố Hồ Chí Minh. Luận án nghiên cứu cơ cấu vốn và rủi ro tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam dưới góc độ quản trị tài chính, được thực hiện dựa vào dữ liệu thứ cấp từ báo cáo tài chính từ năm 2010 đến năm 2013 của 230 doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp đang tập trung nhiều vào mục tiêu lợi nhuận mà ít quan tâm đến dòng tiền hoạt động; ngoài ra, kết quả khảo sát ý kiến gợi ý quyết định cơ cấu vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố và doanh nghiệp cần có thiết lập hệ thống cảnh báo rủi ro tài chính. Bên cạnh đó, luận án sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng cân bằng về mối quan hệ giữa mức độ sử dụng nợ trong cơ cấu vốn với từng biểu hiện của rủi ro tài chính theo mô hình các yếu tố tác động cố định và mô hình các yếu tố tác động ngẫu nhiên, theo đó, mức độ sử dụng nợ có ảnh hưởng cùng chiều đáng kể đến lợi nhuận dành cho chủ sở hữu, nhưng lại có ảnh hưởng ngược chiều đáng kể đến khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và lãi vay.
Kết quả gợi ý các doanh nghiệp cần đưa ra quyết định cơ cấu vốn với những điều kiện ràng buộc về lợi nhuận dành cho chủ sở hữu và rủi ro kiệt quệ tài chính.Căn cứ kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra các gợi ý cho doanh nghiệp Việt Nam, đó là: (i) Tích cực nghiên cứu và ứng dụng phân tích định lượng để đưa ra quyết định cơ cấu vốn, (ii) Điều chỉnh cơ cấu nợ theo hướng giảm bớt nợ vay, tập trung chủ yếu là giảm các khoản nợ vay có lãi suất cao, (iii) Điều chỉnh cơ cấu vốn theo hướng đến tương thích với cơ cấu tài sản, (iv) Chủ động nhận diện và dự báo rủi ro tài chính, (v) Chú trọng hơn đối với dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, (vi) Gia tăng hiệu quả hoạt động đầu tư góp phần đảm bảo hiệu quả sử dụng nợ. Ngoài ra, luận án cũng đưa ra gợi ý hướng nghiên cứu trong tương lai liên quan cơ cấu vốn và rủi ro tài chính. Tác giả Trần Quốc Bảo trong “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động tại Công ty cổ phần Xây dựng và Đầu tư Việt Nam (CAVICO Việt Nam)”, luận văn 4 z Thạc sỹ năm 2008, lưu tại Đại học Kinh tế quốc dân. Trong luận văn, xuất phát từ những cơ sở lý luận về tài sản lưu động và hiệu quả sử dụng sử dụng tài sản lưu động, tác giả Trần Quốc Bảo đã đánh giá thực trạng của doanh nghiệp trong công tác sử dụng tài sản lưu động từ năm 2005 đến 2007, chỉ ra những kết quả đạt được, các vấn đề còn tồn tại đề suất những giải pháp khắc phục trong công tác quản lý và sử dụng tài sản lưu động cho Công ty cổ phần Xây dựng và Đầu tư Việt Nam.
Công ty cổ phần Xây dựng và Đầu tư Việt Nam là công ty có quy mô vốn tầm không lớn nên nhiều doanh nghiệp xây dựng vừa và nhỏ khác có thể tham khảo, song do yếu tố thời gian nên luận văn ít còn phù hợp, mặt khác tác giả mới chỉ xem xét trên góc độ sử dụng tài sản lưu động nên chưa toàn diện. Tác giả Ngô Tấn Hưng trong “Nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công ty xây dựng công trình 545”, luận văn Thạc sỹ Kinh tế, lưu tại Đại học Đà Nẵng, năm 2006. Bằng các phương pháp điều tra, thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, phân tích, tổng hợp…tác giả đã tập trung đánh giá một cách sâu sắc, toàn diện về thực trạng nguồn lực, về kết quả đấu thầu và về năng lực cạnh tranh trong đâu thầu của Công ty xây dựng công trình 545 trong thời gian từ năm 2002 đến năm 2005. Từ đó rút ra nguyên nhân kinh nghiệm trúng và trượt thầu.
Từ việc phân tích đánh giá các mặt mạnh yếu, các cơ hội và thách thức đồng thời xác định các nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến hoạt động đấu thầu của công ty, tác giả đưa ra những giả pháp nhằm nâng cao năng lưc cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng đó là: sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, nâng cao năng lực thi công cơ giới, xây dựng và áp dụng hệ quản trị chất lượng trong toàn công ty, nhóm giải pháp tài chính như mở rộng thu hút vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; Hoàn thiện các kỹ năng xây dựng hồ sơ đấu thầu và tham gia đấu thầu. Tác giả Bùi Văn Lâm trong “Phân tích tình hình tài chính tại Công ty cổ phần Vinaconex 25”, luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh năm 2011 lưu tại Đại học Đà Nẵng. Dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả sử dụng các phương pháp so sánh, phương pháp chi tiết, 5 z phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng và một số phương pháp kinh tế, tài chính khác. Xuất phát từ hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về phân tích tình hình tài chính trong các công ty cổ phần, tác giả Bùi Văn Lâm đã đánh giá tình hình phân tích tài chính tại Công ty cổ phần Vinaconex 25 trên ba phương diện: Tình hình tài chính, (tác giả phân tích sự biến động và cơ cấu tà sản và nguồn vốn); Kết quả kinh doanh, (tác giả phân tích kết quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động); Và rủi ro.
Đồng thời, tác giả cũng xem xét hoạt động phân tích tài chính đang diễn ra ở Công ty Vinaconex 25 và chỉ ra những ưu điểm và tồn tại đó là: Về ưu điểm, công ty đã nhận thức được vai trò của phân tích tài chính và đã tiến hành phân tích tài chính trên một số nội dung. Về tồn tại, hoạt động phân tích không thường xuyên, nội dung, chỉ tiêu và phương pháp phân tích còn đơn giản. Sau khi đưa ra những phân tích và đánh giá, tác giả Bùi Văn Lâm cũng kiến nghị những yêu cầu và một số giải pháp hoàn thiện công tác phân tích tài chính cho công ty Vinaconex 25 đó là: Bổ sung phân tích tính tự chủ tài chính và phân tích cân bằng tài chính theo quan hệ cân đối giữa tài sản với tính ổn định của nguồn tài trợ tài sản; Bổ sung nội dung phân tích hiệu suất sử dụng tài sản và bổ sung phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp phân tích hồi quy; Kiến nghị công ty nên sử dụng thêm mô hình Z- Score để phân tích rủi ro phá sản; Bổ sung nội dung phân tích chứng khoán, phân tích khả năng tạo tiền và tình hình lưu chuyển tiền tệ. Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga trong “Đổi mới cơ cấu vốn của Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 4”, luận văn Thạc sỹ năm 2008, lưu tại Đại học Kinh tế quốc dân.
Dưới sự hướng dẫn của PGS.Vương Trọng Nghĩa và xuất phát từ cơ sở lý luận của vốn và cơ cấu vốn trong doanh nghiệp tác giả Tuyết Mai đã nghiên cứu thực trạng cơ cấu vốn của Công ty cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 4 từ năm 2005 đến 2007, chỉ ra những tác động tiêu cực của cơ cấu vốn không hợp lý đối với kết quả kinh doanh của công ty này. Từ đó tác giả đã đề xuất giải pháp để đổi mới cơ cấu vốn cho công ty này.