Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn. Chương 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty cổ phần công nghệ Hợp Long. Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty cổ phần công nghệ Hợp Long.
3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Khi xem xét đánh giá hiệu quả quản lý tài chính, có một yếu tố quan trọng không thể không đề cập đến đó là tình hình quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp, bởi nó là một trong những nguyên nhân làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị tài chính. Phân tích lý thuyết và thực nghiệm về hiệu quả sử dụng tài sản cho đến nay đã được nghiên cứu rất nhiều.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế, trong tình trạng nhiều doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán và hiệu quả quản lý các nguồn lực tài chính chưa cao. Ở Việt Nam, đề tài hiệu quả sử dụng tài sản trong các doanh nghiệp cũng thu hút nhiều nghiên cứu của các bậc thạc sĩ và tiến sĩ. Có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu sau: “Hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần than Vàng Danh- Vinacomin”, Luận văn thạc sỹ 2015, lưu tại Đại học Kinh tế- Đại học Quốc Gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thuỷ. Tác giả đã xây dựng được khung lý thuyết về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản nhưng đưa ra các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản chưa chính xác như hệ số hao mòn tài sản cố định.
Tác giả Phan Hồng Mai trong “Quản lý tài sản tại các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết ở Việt Nam”, luận án tiến sĩ kinh tế năm 2012, lưu tại Đại học Kinh tế quốc dân, Trong đó tác giả đã hệ thống hoá cơ sở lý luận về tài sản tại doanh nghiệp. Bằng các phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, tác giả đã phân tích thực trạng quản lý và sử dụng tài sản tại 104 Công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2010 thông qua các chỉ tiêu về tiền mặt, nợ phải thu, hàng tồn kho và tài sản cố địnhtừ đó đưa ra khuyến nghị bằng những giải pháp tăng cường quản lý tài sản bằng cách ứng dụng mô hình Miller- Orr vào quản lý ngân quỹ, sử dụng kết hợp phần mềm trong quản lý công nợ, hàng tồn kho và tài sản cố định. 4 z “Hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty xăng dầu khu vực 1”, Luận văn thạc sĩ 2015 lưu tại Đại học Kinh tế- Đại học Quốc Gia Hà Nội của tác giả Trần Thị Thu Hương được thực hiện với phương pháp nghiên cứu khoa học, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, bên cạnh đó tác giả cũng đã so sánh được một số chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp với các chỉ tiêu cùng ngành làm cho nghiên cứu có sự thuyết phục cao, luận văn đã góp phần phân tích và đánh giá thực trạng sử dụng tài sản tại công ty xăng dầu khu vực 1 song chưa phân định rõ ràng từng kết quả, hạn chế, có sự nhầm lẫn giữa kết quả, hạn chế với nguyên nhân đạt được kết quả. “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà”, Luận văn thạc sĩ 2014 lưu tại Đại học Kinh tế- Đại học Quốc Gia Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thanh Loan đã chỉ rõ khái niệm, cách phân loại và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản, có sự so sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với chỉ tiêu ngành, song việc sử dụng các thuật ngữ chưa có sự nhất quán như vốn, tài sản bởi đó là hai phạm trù khác nhau, vốn là biểu hiện bằng tiền của tài sản, hay nói cách khác nó là thước đo giá trị của tài sản.
Hầu hết các nghiên cứu của các tác giả chưa nêu ra được kinh nghiệm quản lý và sử dụng tài sản của các doanh nghiệp tại Việt Nam hoặc của thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý tài sản của đơn vị mình. Dựa trên các nghiên cứu hiện tại về hiệu quả sử dụng tài sản Việt Nam, có rất nhiều khoảng trống để học viên lựa chọn đề tài này nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác quản lý tài sản cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản trong các doanh nghiệp như: Hoàn thiện cơ sở lý luận về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản tại doanh nghiệp, chỉ ra bộ chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản, có sự so sánh chỉ số tài chính với các đối thủ cạnh tranh cùng ngành, cùng quy mô, địa bàn hoạt động. Phân tích thực trạng sử dụng tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty từ đó tìm ra nguyên nhân gây ra hạn chế trong công tác quản lý và sử dụng tài sản. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty.
Lựa chọn những vấn đề nghiên cứu mà các nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến hoặc nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau. Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích định tính, phân tích định lượng, tổng hợp, so 5 z sánh để thu thập các dữ liệu và sử dụng những dữ liệu đã thu thập được để phân tích thực trạng hoạt động quản lý tài sản, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp, từ đó chỉ ra những hạn chế trong công tác quản lý tài sản để đưa ra những giải pháp khắc phục hạn chế đó nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty cổ phần công nghệ Hợp Long. Tổng quan về tài sản trong doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp Tài sản là một thuật ngữ quen thuộc đối với bất kỳ ai, đó là vấn đề trọng tâm của các quan hệ xã hội nói chung và trong quan hệ pháp luật nói riêng.
Tài sản tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, phong phú và đa dạng, vì vậy đã có rất nhiều quan điểm về tài sản có thể kể đến như: Theo Hội đồng biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, “tài sản là thuật ngữ kế toán kinh doanh chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của nhà nước; có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hoá hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu: lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên” Thống nhất với quan điểm trên, Bộ Tài chính Việt Nam quy định: “tài sản là những nguồn lực doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp”. Các “nguồn lực” này có thể được biểu hiện dưới hình thái vật chất cụ thể như máy móc, nhà xưởng hoặc không như bản quyền, bằng phát minh, sáng chế. Khả năng “kiểm soát” của doanh nghiệp đối với tài sản xuất phát từ quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng lâu dài dựa trên các hợp đồng thuê tài chính “Lợi ích kinh tế trong tương lai” của tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra.
Những quy định này tương đồng với chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành. Theo chuẩn mực kế toán số 1- Chuẩn mực chung (ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ- BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng bộ tài chính). Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, 6 z hàng hoá hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp còn được bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính, hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không được kiểm soát về mặt pháp lý như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thoả mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản, khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế. Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc sự kiện đã qua như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng.
Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiên sẽ phát sinh trong tương lai nhưng không làm tăng tài sản. Như vậy có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó. Đặc tính này cũng quyết định tầm quan trọng của tài sản đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp lớn hay nhỏ, không thể tồn tại và phát triển lâu dài nếu không có tài sản.
Chính vì vậy, cần thực hiện quản lý tài sản để những tài sản đó đem lại lợi ích cao nhất cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Tuỳ theo yêu cầu quản lý khác nhau của từng doanh nghiệp mà tài sản có thể được phân loại theo những tiêu thức khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tìm hiểu sâu hơn về cách phân loại tài sản theo kết cấu bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Theo tiêu thức này tài sản của doanh nghiệp được chia thành tài sản ngắn hạn (TSNH) và tài sản dài hạn (TSDH).
Việc phân loại như trên sẽ cho thấy rõ tốc độ luân chuyển của các loại tài sản trong doanh nghiệp 1.