Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát chỉ ngân sách cấp huyện, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cắp huyện). Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chỉ ngân sách tại thành phố ‘Quang Ngai - tinh Quảng Ngãi. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chỉ ngân sách tại thành phố Quảng Ngãi - tỉnh Quảng Ngãi. Chucong1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KIEM SOÁT CHI NGAN SACH CAP HUYỆN, THÀNH PHÓ THUỘC TĨNH (GỌI CHUNG LÀ NGÂN SÁCH.
NGÂN SÁCH HUYỆN TRONG HỆ THÔNG NGÂN SÁCH NHÀ. Khái quát về hệ thống ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội trong điều kiện còn tồn tại quan hệ hàng hóa - tiễn tệ và được sử dụng như một công cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước. Điều này có nghĩa là sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước gắn liền với sản.
xuất hàng hóa, với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước. Theo Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16 tháng 12 năm 2002 và có hiệu lực thì hành từ năm ngân sách 2004, tại Điều 1 quy định: "Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chỉ của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước. có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm dé bao dim thực. hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" Hệ thống NSNN là tổng thể ngân sách của các cấp chính quyền Nhà nước, được tổ chức phù hợp với tổ chức bộ máy quản lý của Nhà nước.
Cơ cấu tổ chức NSNN của nước ta cóthể được khái quát hóa như sơ. 1 Theo Luật NSNN, NSNN Việt Nam gồm: Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, theo quy định hiện hành, bao gồm: ~ Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách tỉnh), bao gồm ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, ~ Ngân sách quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện), bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã, phường, thị trần thuộc huyện; ~ Ngân sách xã, phường, thị trắn (gọi chung là ngân sách cắp xã). Ngân sách nhà nước __—_ __— 'Ngân sách Trung wong ch địa phương, Ngân sách cấp tỉnh 1 Ngân sách cấp huyện.
{ Ngân sách cấp xã So dé 1. Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam cấp quản lý ngân sách nhà nước ất cả các môi quan hệ giữa các cấp chính quyền trong việc sử dụng NSNN, cụ thể lả ~ Giải quyết mỗi quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong. việc ban hành các chính sách, chế độ thu, chỉ quản lý NSNN. ~ Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ.
chỉ, nguồn thu và cân đối ngân sách các cắp chính quyền. ~ Giải quyết mối quan hệ trong chu trình ngân sách, tức là quan hệ về ‘quan If trong chu trình vận động của NSNN, từ khâu lập NSNN tới chấp hành và quyết toán NSNN. * Nguyên tắc phân cắp quản lý NSNN. Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bach, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm.
Do đó, phân cắp quản lý NSNN phải đảm bảo các. nguyên tắc sau: ~ Phải đảm bảo tính thống nhất của hệ thống NSNN: Mọi chế độ, chính sách về NSNN phải được áp dụng thống nhất trong toản quốc. ~ Phải được thực hiện đồng bộ với phân cấp kinh tế và tổ chức bộ máy. hành chính.
Đồng thời phải dựa trên cơ sở các chức năng, nhiệm vụ quản lý 'Nhà nước của chính quyền địa phương. ~ Phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, tức là vừa phải đảm bảo vai trỏ chủ đạo của ngân sách Trung ương, vừa đảm bảo tính độc lập tương, đối của ngân sách địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương trong việc điều hành ngân sách đã được phân cấp. - Cần được quán triệt khi thực hiện phân cấp quản lý NSNN là tính công bằng. Nhiệm vụ thu, chỉ giao cho địa phương phải cân đối chung trong.
cả nước * Nguyên tắc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chỉ và quan hệ giữa. ngân sách các cấp ~ Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương. được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chỉ cụ thể; ~ Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chỉ ngân sách; ~ Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân. Hội đồng nhân đân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung, là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chỉ giữa ngân sách Q ấp chính quyển địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn; ~ Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo.
đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chỉ ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối. ngân sách của từng cấp; ~ Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyển cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chỉ của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ chỉ đó; ~ Thực hiện phân chia ty lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân. chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng các địa phương. Tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu và bỗ sung cân đối từ ngân.
sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ồn định từ 3 đến 5 năm. sung từ ngân sách cắp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới; ~ Trong thời ky én dinh ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hàng năm mà ngân sách địa phương được hưởng để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, sau mỗi kỳ ôn định ngân sách, phải tăng khả. năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần số bổ. sung từ ngân sách cắp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm điều tiết thu nộp về ngân.
sách cấp trên. Ngân sách cắp huyện 113 .Sự hình thành và phát triển ngân sách cấp huyện “Trong nên kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, ngân sách nhà nước. ta tổ chức thinh hai cấp: Ngân sách tnmng ương và ngân sách tỉnh, thành phổ. Việc phân cấp như vậy là phù hợp với nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền trong việc huy động tối đa nguồn lực tài chính.
Ở thời kỳ này, ngân sách cấp. huyện đóng vai trò là một cấp dự toán. Ngày 15/5/1978, với chủ trương xây dựng huyện thành một cấp có cơ cấu. kinh tế hoàn chỉnh, có tư cách là một đơn vị kinh tế công - nông nghiệp phát triển toàn diện, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị Quyết 108/CP xác định quyền.
hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương cấp huyện về quản lý tài chính, ngân sách. Nghị quyết có quy định các khoản thu, chỉ ngân sách cấp huyện. Ngày 19/11/1983, Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) ra Nghị quyết số 138/ HĐBT về cải tiến phân cấp ngân sách địa phương, nói rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của ngân sách cấp huyện Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tẾ thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN. Cùng với đà đổi mới của nền kinh tế đất nước, ngân sách cắp huyện cũng được xác định.
lại vai trò, nhiệm vụ của mìmh, Cụ thể, ngày 27/11/1989 HĐBT đã ra Nghị quyết số I§6/HĐBT về phân cấp quản lý ngân sách địa phương trong đó có Ngân sách huyện. Ngày 16/2/1992, HĐBT ban hành Nghị quyết số 186/HĐBT sửa đổi bổ sung Nghị quyết 186/ HĐBT ngày 27/11/1989. Kỳ họp thứ 8 Quốc Hội khoá IX khẳng định: huyện là một cấp chính quyền có ngân sách, ngân sách cắp huyện là một bộ phận hợp thành ngân sách địa phương thuộc hệ thống ngân sách nhà nước. 10 Nhu vay, ngân sich cấp huyện là một cắp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của ngân sách nhà nước trên phạm vi địa bản huyện.
Khảo sát quá trình hình thành ngân sách cấp huyện, ta có thể thấy ngân sách cắp huyện từ một cấp dự toán đã trở thành một cấp ngân sách có nguồn thu và nhiệm vụ chỉ riêng. Đó là một lối đi đúng đắn trong quá trình phát triển nên tài chính quốc gia. Trước tiên, nó giúp cho ngân sách cấp tỉnh, trung ương. giảm được khối lượng công việc.
Tiếp theo, nó giúp cho các cắp chính quyền có thể nắm bắt được tình hình kinh tế nói chung và tài chính nói riêng từ cơ sở. Ngân sách cấp huyện mang bản chất của ngân sách nhà nước, đó là mối ‘quan hệ giữa ngân sách cấp huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện, mối quan hệ đó được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước XHCN. Đó là Nhà nước của dân, do dan, vì din dưới sự lãnh đạo của Đảng ‘Cong Sản Việt Nam. Có thể nói, việc ngân sách cấp huyện trở thành một cấp ngân sách đã làm cho bộ mặt NSNN mang một diện mạo, sắc thái mới, nên tải chính quốc.
gia tở nên lành mạnh và hiệu quả hơn. Thực tế đã chứng minh, trong những, năm qua, xét riêng ở cấp độ huyện, tình hình kinh tế - tài ính có những bước tiến đáng kể. Ngoài ra, ngân sách cắp huyện còn thể hiện bản chất chính. trị của Nhà nước ta thông qua việc thực hiện đúng đắn, hiệu quả, có sáng tạo các chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước.