Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp Chương 3: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các công ty trách nhiệm hữu hạn xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các công ty trách nhiệm hữu hạn xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội 13 CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP 2. Một số vấn đề lý thuyết cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây lắp 2. Một số định nghĩa, khái niệm liên quan đến kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 2.
Khái niệm chi phí sản xuất Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động xây lắp trong một thời kỳ nhất định. Chi phí của đơn vị xây lắp gồm chi phí sản xuất xây lắp và chi phí sản xuất ngoài xây lắp. Cụ thể: Chi phí xây lắp là toàn bộ các chi phí sản xuất phát sinh trong lĩnh vực động hoạt động sản xuất xây lắp. Nó là bộ phân cơ bản để hình thành giá thành sản phẩm xây lắp; Chi phí sản xuất ngoài xây lắp là toàn bộ các chi phí sản xuất phát sinh trong lĩnh vực sản xuất ngoài xây lắp như chi phí hoạt động sản xuất công nghiệp phụ trợ, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khác.
Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí sản xuất để chia ra các khoản mục khác nhau. Mỗi khoản mục chi phí bao gồm những chi phí có cùng mục đích công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế như thế nào. Do vậy, cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí theo khoản mục. Trong doanh nghiệp xây lắp, toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra làm các khoản mục chi phí sau: Một là, Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí ( đã tính đến hiện trường xây lắp ) của các vật liệu chính, vật kết cấu, vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển bán thành phẩm… và giá trị vật liệu luân tính vào chi phí trong kỳ tạo nên sản phẩm xây lắp.
Hai là, Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm chi phí về tiền lương của công 14 nhân trực tiếp xây lắp và tiền công thuê ngoài để thực hiện khối lượng xây lắp. Ba là, Chi phí sử dụng máy thi công : là chi phí sử dụng máy thi công để hoàn thành sản phẩm xây lắp bao gồm 6 tiểu khoản: Chi phí nhân công; Chi phí vật liệu; Chi phí dịch vụ sản xuất; Chi phí khấu hao máy thi công; Chi phí dịch vụ mua ngoài; Chi phí bằng tiền khác để sử dụng máy thi công. Bốn là, Chi phí sản xuất chung: là những chi phí là những chi phí quản lý, phục vụ sản xuất và những chi phí ngoài sản xuất bao gồm 5 khoản mục: Chi phí nhân viên phân xưởng; Chi phí vật liệu; Chi phí dụng cụ sản xuất; Chi phí khấu hao TSCĐ; Chi phí dịch vụ mua ngoài ở phân xưởng sản xuất phục vụ cho nhu cầu sản xuất chung của các đội sản xuất và các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản xuất của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiển máy thi công , nhân viên phân xưởng. Chi phí sản xuất chung phải được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí.
Nếu trong doanh nghiệp có nhiều đội xây dựng thì phải mở sổ chi tiết để tập hợp chi phí sản xuất chung cho từng đội xây dựng. Cuối tháng, chi phí sản xuất chung được tập hợp kết chuyển để tính giá thành sản phẩm, công việc của đội xây dựng đó. Trường hợp đội xây dựng trong kỳ có xây dựng nhiều công trình, hạng mục công trình thì phải phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình, hạng mục công trình có liên quan. Phân loại chi phí theo đúng mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
Ngoài cách phân loại trên trong doanh nghiệp còn phân loại chi phí theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí: Thứ nhất, Chi phí trực tiếp: là những chi phí có liên quan trực tiếp với quá trình sản xuất ra một loại sản phẩm, một công việc nhất định bao gồm nguyên vật liệu xây dựng, tiền lương công nhân sản xuất, khấu hao máy móc thiết bị thi công. Thứ hai, Chi phí gián tiếp: là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, nhiều công việc thường phát sinh ở bộ phận quản lý. Vì vậy, kế toán phải tiến hành phân bổ cho các đối tượng liên quan theo một tiêu thức thích hợp. 15 Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định phương pháp tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách chính xác và hợp lý.
Bên cạnh đó một số doanh nghiệp còn phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố: Theo cách phân loại này, các chi phí có cùng nội dung, tính chất kinh tế được xếp chung vào một yếu tố, không kể chi phí phát sinh ở đâu hay dùng vào những mục đích gì trong quá trình sản xuất. Trong doanh nghiệp xây lắp có các yếu tố chi phí sau: - Chi phí nguyên vật liệu : xi măng, thép, cát, gạch. - Chi phí công cụ, dụng cụ : cuốc, xẻng, cốp pha, máy dầm, máy bơm. - Chi phí tiền lương của công nhân trực tiếp, gián tiếp, lao động thuê ngoài và trích BHXH, BHYT, KPCĐ - Chi phí khấu hao TSCĐ, máy móc thiết bị.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài. - Chi bằng tiền khác. Việc phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố cho biết kết cấu tỷ trọng từng yếu tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quĩ lương, kế hoạch về vốn giúp cho việc thực hiện công tác kế toán và công tác quản lý được chặt chẽ. Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá bỏ ra để tiến hành sản xuất khối lượng sản phẩm xây lắp hoàn thành.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí chi ra như như chi phí nguyên liệu, chi phí máy thi công… tính bằng tiền để hoàn thành một khối lượng sản phẩm xây lắp nhất định, có thể là một hạng mục công trình hay một công trình hoàn thành toàn bộ. Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất, kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong 16 quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm đạt được mục đích sản xuất được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí ít nhất và hạ giá thành. Giá thành sản phẩm xây lắp gồm 4 khoản mục sau: - Khoản mục chi phí vật liệu. - Khoản mục chi phí nhân công.
- Khoản mục chi phí máy thi công - Khoản mục chi phí sản xuất chung. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp Xét theo thời điểm và nguồn và nguồn số liệu : Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được xác định trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và số lượng kế hoạch. Việc tính giá thành do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi bắt đầu sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch của sản phẩm là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp và là cơ sở phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp.
Giá thành kế hoạch được xác định theo công thức: Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán - Mức hạ giá thành công tác xây lắp công tác xây lắp kế hoạch (Tính cho từng công trình, hạng mục công trình) Giá thành dự toán: được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm Giá thành dự toán của Giá trị dự toán của từng Lợi nhuận từng công trình hạng = công trình hạng mục - chịu thuế tính mục công trình công trình trước Trong đó : Lợi nhuận chịu thuế tính trước là số phần trăm trên giá thành xây lắp do Nhà Nước qui định đối với từng loại xây lắp khác nhau, từng sản phẩm xây lắp cụ thể. Thông qua giá thành dự toán của công tác xây lắp người ta có thể đánh giá được thành tích của đơn vị. Giá thành dự toán là hạn mức chi phí cao nhất mà đơn 17 vị có thể chi ra để đảm bảo có lãi, là tiêu chuẩn để đơn vị xây lắp phấn đấu hạ giá thành thực tế và là căn cứ để chủ đầu tư thanh toán cho doanh nghiệp khối lượng hoàn thành đã nghiệm thu. Mặt khác, giá trị dự toán của từng công trình, hạng mục công trình được xác định theo các định mức ( vật liệu, nhân công, máy.) đơn giá của các cơ quan có thẩm quyền ban hành và sát được giá trị thực tế, không phản ánh được giá trị thực chất của công trình.
Do vậy doanh nghiệp phải lập giá thành kế hoạch để dự kiến chỉ tiêu hạ giá thành. Giá thành thực tế: Sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của tất cả chi phí sản xuất thực tế mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành khối lượng xây dựng nhất định. Nó được xác định theo số liệu kế toán cung cấp. Giá thành thực tế không chỉ bao gồm những chi phí thực tế phát sinh như : mất mát, hao hụt vật tư.
do những nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp.