Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KÊ BIÊN TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN, KÊ BIÊN TÀI SẢN THẾ CHẤP LÀ BẤT ĐỘNG SẢN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Kê biên tài sản trong Thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam Kê biên tài sản là một trong những biện pháp cưỡng chế bắt buộc của cơ quan Thi hành án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền nhằm buộc đương sự phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo Bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản. Kê biên xử lý tài sản của người phải thi hành án là một biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định tại khoản 3 Điều 71 Luật Thi hành án dân sự. Trong thực tiễn công tác thi hành án dân sự, biện pháp kê biên tài sản được áp dụng khi người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và mặc dù người này có điều kiện thi hành (có tài sản) nhưng không tự nguyện thi hành.
Để tiến hành kê biên tài sản, Chấp hành viên hoặc người được thi hành án phải tiến hành xác minh tài sản của người phải thi hành án và khi có căn cứ cho thấy người phải thi hành án có tài sản nhưng không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên mới tiến hành kê biên để thi hành án. Do đó, căn cứ để xác định một tài sản có phải là của người phải thi hành án hay không là rất quan trọng vì Chấp hành viên chỉ kê biên, xử lý tài sản khi có căn cứ xác định tài sản đó thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của người phải thi hành án. Điều kiện áp dụng biện pháp kê biên tài sản Để áp dụng được biện pháp kê biên tài sản Thi hành án, cần phải căn cứ các quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được bổ sung, sửa đổi năm 2014 (Luật thi hành dân sự), gồm: - Bản án, quyết định: 9 Bản án, quyết định của Tòa án là một trong những căn cứ bắt buộc, không thể thiếu để thực hiện biện pháp kê biên tài sản nói chung và kê biên tài sản thế chấp thu hồi nợ ngân hàng nói riêng. Điều này được quy định tại khoản 1, điều 70 của Luật thi hành án dân sự về căn cứ cưỡng chế: “bản án, quyết định”.
Chấp hành viên phải dựa trên cơ sở bản án, quyết định của Tòa án để ban hành quyết định và áp dụng biện pháp cưỡng chế. Không phải mọi bản án, quyết định của Tòa án đều được đưa ra thi hành và áp dụng biện pháp cưỡng chế, mà chỉ những bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mới được đưa ra tổ chức thi hành và làm căn cứ để cưỡng chế. Bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật là bản án, quyết định bắt buộc thưc hiện đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Những bản án, quyết định này được quy định tại điều 2 của Luật thi hành án dân sự, như vậy, những bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật mới được dùng làm căn cứ để cưỡng chế kê biên xử lý để đảm bảo thi hành án trong đó có cả việc cưỡng chế, kê biên, xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.
- Quyết định thi hành án: Quyết định thi hành án là văn bản do Thủ trưởng cơ quan Thi hành án ban hành theo thẩm quyền do Luật Thi hành án quy định. Quyết định thi hành án là căn cứ quan trọng và cần thiết nhất trong hồ sơ thi hành án. Đây là căn cứ để Chấp hành viên lập hồ sơ thi hành án, cũng như tổ chức kê biên thi hành án. Toàn bộ những nội dung mà Chấp hành viên phải tổ chức thi hành đều được thể hiện trọng quyết định thi hành án.
Chấp hành viên chỉ được tổ chức thi hành án từ khi có quyết định thi hành án do Thủ trưởng cơ quan ban hành và phân công cho Chấp hành viên thực hiện. Đối với trường hợp ra quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu thì Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu, thời hạn ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu là 05 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án. Để xác định nội dung yêu cầu của người yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án phải nghiên cứu cụ thể nội dung đơn yêu cầu, nội dung của 10 bản án, quyết định. Nội dung đơn yêu cầu phải phù hợp với nội dung phần quyết định trong bản án, quyết định.
Khi thực hiện kê biên Chấp hành viên phải xem xét kỹ nội dung quyết định thi hành án và kết quả xác minh tài sản của đương sự để xác định tài sản kê biên, cũng như áp áp dụng biên pháp kê biên phù hợp, tương thích. Đây là kỹ năng hết sức quan trọng mà Chấp hành viên cần phải có trong tổ chức thi hành quyết định, bản án. Nguyên tắc áp dụng biện pháp kê biên tài sản Chấp hành viên căn cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương để lựa chọn việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án thích hợp. Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án trong trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại điều 130 Luật Thi hành án dân sự.
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết. Sau khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành mặc dù có điều kiện thi hành, trong trường hợp bản án tuyên kê biên thì Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế kê biên. Quyết định cưỡng chế do Chấp hành viên ban hành và phải căn cứ vào khoản 1 điều 46 của Luật thi hành án dân sự, căn cứ vào nội dung của bản án, quyết định của Tòa án, căn cứ vào quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án và điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Thực hiện đúng các nguyên tắc trong áp dụng biện pháp cưỡng chế, kê biên tài sản thi hành án đòi hỏi chấp hành viên phải được đào tạo rất kỹ lưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ thi hành án, cũng như những kinh nghiệm thực tiễn tích lũy được trong quá trình công tác.
Vì đây là kỹ năng được kết hợp giữa những quy định pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, để từ đó Chấp hành viên áp dụng đúng biện pháp 11 cưỡng chế, đúng thời điểm, đúng với bản chất vụ việc. Việc tuân thủ đúng nguyên tắc trong cưỡng chế, kê biên tài sản để thi hành án sẽ đảm bảo cho việc cưỡng chế, kê biên tài sản được điễn ra hiệu quả, an toàn, đúng pháp luật. Căn cứ áp dụng biện pháp kê biên tài sản Khi tổ chức thi hành một bản án liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay ngân hàng thì căn cứ để tổ chức cưỡng chế thi hành án vẫn phải theo quy định chung, trong đó hồ sơ thi hành án phải có: Bản án quyết định, đơn yêu cầu thi hành án, Quyết định thi hành án, các văn bản tài liệu xác minh quá trình tổ chức thi hành án và cuối cùng là Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án. Kê biên tài sản thế chấp vay tiền ngân hàng trong Thi hành án dân sự 1.
Lý luận về tài sản thế chấp - Theo quy định tại điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” - Thế chấp tài sản là một trong những biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, cụ thể, thế chấp được hiểu là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho bên kia (bên nhận thế chấp) nhưng không giao ra tài sản. Đối với hoạt động tín dụng, tài sản bảo đảm (Thế chấp) được xem như phao cứu sinh nhằm giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo ngân hàng có thể thu hồi một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi khi khách hàng không trả được nợ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác xử lý tài sản bảo đảm tại các ngân hàng còn tồn tại nhiều hạn chế.
Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật liên quan đến tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm vừa chồng chéo vừa thiếu hụt. Về lý luận thì đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cá nhân, tổ chức đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài 12 sản, khái niệm này cũng được phân biệt rõ với khái niệm tài sản bảo đảm, là bảo đảm theo thỏa thuận giữa các bên, chưa có sự chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Pháp luật quy định, không phải tất cả các giao dịch đều phải đăng ký. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm có những hiệu ứng tích cực sau: Trong trường hợp đăng ký là yêu cầu, là điều kiện để giao dịch có hiệu lực bắt buộc thì việc đăng ký là một điều kiện về hình thức để giao dịch bảo đảm có hiệu lực pháp luật; đăng ký giao dịch bảo đảm thể hiện sự minh bạch của quá trình lưu thông tài sản; đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý giao dịch bảo đảm.