Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỦY BẢN ÁN SƠ THẨM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Lý luận về hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm chung về huỷ bản án Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đưa ra khái niệm về hủy bản án sơ thẩm vụ án hình sự.
Theo từ điển Tiếng Việt thì “hủy” là “làm cho không còn tồn tại hoặc không còn có giá trị nữa”. Bản án (trong trường hợp này là bản án hình sự) là văn bản áp dụng pháp luật thể hiện phán quyết của Tòa án trong xét xử vụ án hình sự. Theo cách hiểu này thì “hủy bản án” là cách thức làm cho một bản án chưa có hiệu lực pháp luật của của Tòa án cấp sơ thẩm không còn giá trị nữa để có hiệu lực thi hành (huỷ ở cấp phúc thẩm) hay làm cho bản án đã có hiệu lực thi hành không còn hiệu lực thi hành nữa (huỷ ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm). Cùng với việc huỷ bản án là một loạt vấn đề đặt ra tiếp theo là vì sao phải hủy bản án (căn cứ huỷ bản án)? Chủ thể nào được trao thẩm quyền hủy bản án? Hậu quả pháp lý của việc hủy bản án là gì?.
Trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, huỷ bản án được hiểu là huỷ toàn bộ bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang có hiệu lực pháp luật hoặc huỷ một phần bản án đó, nếu các phần khác của bản án không ảnh hưởng đến phần bản án bị huỷ. Trong tố tụng hình sự Việt Nam khi nói đến thuật ngữ “hủy bản án” sơ thẩm hình sự cấp quận, huyện là nói đến thẩm quyền của HĐXX cấp phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm được quy định trong pháp luật hình sự. Với những nội dung nêu trên, có thể đưa ra khái niệm hủy bản án trong tố tụng hình sự: “Hủy bản án là một trong những quyền hạn của Tòa án cấp 8 trên trong quá trình xét xử phúc thẩm vụ án hoặc xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án cấp dưới theo thủ tục luật định, nếu xét thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật, nhằm hủy bỏ một phần hay toàn bộ bản án đó để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án”. Hủy bản án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm Theo Từ điển Luật học thì Tòa án cấp phúc thẩm có thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ để điều tra lại hoặc xét xử lại và hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án.
Khi hủy án sơ thẩm để xét xử lại, Tòa án cấp phúc thẩm không quyết định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải phản bác bỏ; cũng như, không quyết định trước về điều khoản bộ luật và chế tài mà Tòa án cấp sơ thẩm sẽ phải áp dụng. Đối với trường hợp hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án, nếu Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm thì ra quyết định hủy bản án sơ thẩm, tuyên bố bị cáo vô tội và đình chỉ vụ án [41, tr. Hủy bản án, quyết định của Tòa án là một biện pháp quan trong góp phần hạn chế tình trạng oan, sai trong các bản án, quyết định của Tòa án; nhằm bảo vệ quyền con người, đảm bảo tính đúng đắn các phán quyết của Toà án trong giải quyết các vụ án hình sự. Cách thức trình tự tiến hành xét xử lại vụ án hoặc xem xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Mục đích của việc xét xử phúc thẩm là nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, sửa chữa những sai lầm và vi phạm của tòa án sơ thẩm nhằm bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật. 9 Việc xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo của những người có quyền kháng cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân. Hội đồng xét xử chỉ xét xử đối với những vụ án mà bản án bị kháng cáo, kháng nghị. Phần còn lại không bị kháng cáo, kháng nghị chỉ được xem xét nếu có điểm cần được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Khi xét xử Tòa án cấp phúc thẩm có quyền bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại. Bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án. Trong khoa học Luật tố tụng hình sự đưa ra nhiều khái niệm xét xử phúc thẩm. Tuy các khái niệm đó có cách diễn đạt khác nhau, nhưng đều khá thống nhất về những yếu tố cơ bản xuất phát từ tinh thần quy định của BLTTHS [30, Điều 30].
Theo tinh thần đó, xét xử phúc thẩm được hiểu là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp và khắc phục những sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [6, tr. Đối tượng xét xử phúc thẩm là toàn bộ hay một phần nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm cũng có thể xem xét những phần khác của bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có liên quan đến kháng cáo. Nếu có kháng cáo về những vấn đề chưa được xét xử ở cấp sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có trách nhiệm phải giải quyết.
Tòa án xét xử phúc thẩm có nhiệm vụ xem xét, đánh giá lại sự thật của vụ án trên cơ sở những chứng cứ cũ và chứng cứ mới được bổ sung ở cấp phúc 10 thẩm, đồng thời thực hiện chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ này, Tòa án cấp phúc thẩm có khả năng phát hiện, khắc phục và sửa chữa những sai lầm, thiếu sót trong việc xét xử sơ thẩm, đồng thời thông qua việc phát hiện sửa chữa sai lầm này thì Tòa án cấp phúc thẩm đã hướng dẫn Tòa án cấp dưới, đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng đắn và thống nhất. Sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX phúc thẩm có các quyền sau: Một là, không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; Hai là, sửa bản án sơ thẩm; Ba là, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; Bốn là, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án [30, Điều 355]. Trong quyền hạn của tòa án cấp phúc thẩm nêu trên thì quyền giữ nguyên bản án sơ thẩm là do Toà án cấp sơ thẩm không có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và áp dụng pháp luận đúng đắn (có căn cứ và hợp pháp).
Còn thẩm quyền “sửa bản án” và “hủy bản án” do có nhiều căn cứ khác nhau cần bàn đến: - Nếu như Tòa cấp phúc thẩm nhận thấy những tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã đầy đủ, không cần phải bổ sung gì nữa, nhưng có căn cứ xác định bản án sơ thẩm áp dụng không đúng các quy định của pháp luật hoặc có những tình tiết mới phát sinh liên quan đến việc giải quyết vụ án sau khi xét xử sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm khắc phục hạn chế, thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm bằng cách sửa quyết định của bản án sơ thẩm theo hướng có lợi hoặc không có lợi cho bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự…. Việc sửa bản án có thể gồm: tăng hay giảm hình phạt; mức bồi thường thiệt 11 hại; sửa quyết định xử lý vật chứng hay miễn trách nhiệm hình sự do chuyển biến tình hình hay hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;. - Đối với thẩm quyền hủy bản án trong giai đoạn phúc thẩm là khi Tòa án cấp phúc thẩm phát hiện bản án của Tòa án cấp sơ thẩm có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc chứng minh (thu thập, đánh giá chứng cứ), trong việc áp dụng pháp luật nội dung hay ở vi phạm tố tụng khác ở mức độ đáng kể; đồng thời những vi phạm này Tòa án cấp phúc không thể khắc phục được thì hủy bỏ bản án sơ thẩm này. Tùy theo tính chất vi phạm của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm quyết định hủy bản án để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án.
+ Quyết định hủy bản án để điều tra lại là trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ như: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những hình thức khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích động cơ phạm tội; Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thẩn của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ rách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.