Chương 1. Lý thuyết tổng quan về các hạt nano Chương 2. Trình bày phương pháp động lực học phân tử, chương trình động lực học phân tử, xây dựng mô hình hạt nano vỏ-lõi Fe98B2 bằng phương pháp động lực học phân tử, mô phỏng từ tính của hạt nano bằng mô hình Ising. Kết quả và thảo luận, khảo sát đặc trưng vi cấu trúc của hạt nano vỏ-lõi Fe98B2, khảo sát sự ảnh hưởng của độ dày lớp vỏ, tương tác trao đổi và nồng độ tinh thể hóa vào đặc tính từ của hạt nano.
Kết luận Phụ lục Tài liệu tham khảo 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về hạt nano vỏ lõi Vật liệu nano là vật liệu có kích thước tính theo thang đo nanomet. Trong những năm gần đây, vật liệu nano (dưới đây sẽ gọi tắt là hạt nano) trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu của nhiều nhà khoa học. Tính chất của hạt nano phụ thuộc vào kích thước của chúng, cỡ nanomet đạt tới kích thước tới hạn của nhiều tính chất lý hóa của vật liệu thông thường.
Phương pháp thực nghiệm chế tạo các hạt có thể chia làm ba loại chính như sau: (1) phương pháp ngưng tụ hơi, (2) phương pháp hóa học, (3) Nghiền. Bằng việc sử dụng các kĩ thuật nêu trên, không chỉ chế tạo được những hạt nano thuần nhất mà còn có thể tạo ra những hạt nano lai tạo. Ban đầu, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu các hạt nano thuần nhất vì loại vật liệu này có đặc tính tốt hơn nhiều so với các vật liệu lớn. Nhưng sau đó, vào cuối những năm 80, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng các hạt nano không thuần nhất hay hạt nano bán dẫn đem lại hiệu quả cao hơn so với các hạt nano thuần nhất ban đầu, thậm chí trong một vài trường hợp còn có thêm những đặc tính quan trọng khác.
Và thế là từ đầu những năm 90 trở lại đây, các nhà nghiên cứu tập trung chế tạo các hạt nano bán dẫn trên quan điểm phát triển những đặc tính của vật liệu bán dẫn. Và thế là khái niệm “vỏ/lõi” ra đời. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kích thước vật liệu nano và tế bào Hiện nay người ta có khả năng chế tạo các hạt nano có hình dạng khác như hình lập phương, hình lăng trụ, hình lục giác, hình bát giác, hình đĩa tròn, hình dây, hình gậy, hình ống, .v…v… a) b) c) 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Một số hình dạng vật liệu nano hiện nay a) Vòng nano (nanoring) b) Nano hình cầu, hình lập phương, hình lăng trụ c) Gậy nano (nanorods) d) Cây nano (nanotrees) e) Dây nano (nanowires) Các đặc tính của hạt nano không chỉ phụ thuộc vào kích thước mà còn liên quan đến hình dạng của chúng. Ví dụ, các đặc tính cơ bản của tinh thể nano từ như nhiệt độ tới hạn, độ bão hòa từ, độ từ thẩm đều dựa trên kích thước hạt, tuy nhiên độ kháng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ của chúng lại hoàn toàn phụ thuộc vào hình dạng do hiệu ứng dị hướng bề mặt. Các loại tinh thể nano từ có hình dạng khác nhau có điện thế rất lớn đã tạo dựng nền tảng cho các lĩnh vực từ và công nghệ lưu trữ thông tin mật độ cao. Có thể phân loại các hạt nano dựa trên loại vật liệu chế tạo thành hạt nano thuần nhất, hạt nano vỏ/lõi, hoặc hạt nano tổng hợp.
Nhìn chung, hạt nano thuần nhất được chế tạo từ một loại vật liệu duy nhất, trong khi hạt nano tổng hợp hay hạt nano vỏ/lõi thì được chế tạo từ hai hay nhiều loại vật liệu khác nhau. Các hạt nano vỏ/lõi bao gồm phần vỏ và phần lõi, chúng được tổng hợp từ các loại hợp chất hóa học khác nhau như vật liệu vô cơ/vô cơ, vô cơ/hữu cơ, hữu cơ/vô cơ, và hữu cơ/hữu cơ. Việc lựa chọn vật liệu phần vỏ của hạt nano vỏ/lõi phụ thuộc rất lớn vào nhu cầu sử dụng và ứng dụng của loại hạt này. Phân loại hạt nano vỏ/lõi (a) Hạt nano vỏ/lõi hình cầu (b) Hạt nano vỏ/lõi bát giác (c) Hạt nano lõi nhiều hạt phủ lớp vỏ đơn chất (d) Hạt nano nanomatryuska (e) Hạt nano lõi di chuyển trong lớp vỏ.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 cho ta hình ảnh các loại hạt nano vỏ/lõi. Trong đó, hạt nano vỏ/lõi hình cầu là loại thông dụng nhất (hình 1.3a), bao gồm một hạt lõi hình cầu thuần nhất được phủ một lớp vỏ từ loại vật liệu khác. Các loại hạt nano vỏ/lõi khác được xây dựng dựa trên các nghiên cứu đặc tính khác biệt mới của chúng. Hạt nano vỏ/lõi với phần lõi không phải dạng hình cầu như hình 1.3c là hạt nano với một lớp vỏ bao phủ lên nhiều hạt nhỏ ở phần lõi.3d là hạt nano có những lớp vỏ đồng tâm bao phủ lên lớp lõi là lớp điện môi.
Lớp đệm điện môi tách biệt khỏi lớp kim loại đồng tâm. Loại hạt này còn được biết đến với cái tên cấu trúc nano kim loại điện môi đa lớp hay nanomatryuska. Có thể đồng bộ một hạt lõi có khả năng di chuyển trong một lớp vỏ tương ứng sau khi phủ hai lớp vật liệu lõi và chỉ dịch chuyển lớp đầu tiên bằng kĩ thuật tương thích như hình 1. Các nhà khoa học ngày càng chú ý đến việc chế tạo các hạt nano vỏ/lõi, từ đó làm nảy sinh mối liên hệ giữa vật liệu hóa học và nhiều lĩnh vực khác, như là điện tử, sinh học, dược học, quang học và xúc tác.
Các hạt nano vỏ/lõi là loại vật liệu có độ hoạt động cao với những đặc tính được biến đổi. Đôi khi những tính chất sinh ra từ vật liệu lõi hoặc vỏ có thể khác nhau. Các tính chất này có thể được biến đổi bằng cách thay đổi vật liệu chế tạo hoặc tỉ lệ vỏ/lõi. Việc phủ lớp vỏ đã làm biến đổi các tính chất của lớp lõi như giảm khả năng phản ứng hay độ ổn nhiệt.
Cuối cùng, các hạt có tính chất khác nhau được sử dụng cùng nhau. Điều này đặc biệt hữu ích khi điều chỉnh các hiệu ứng bề mặt để dẫn đến các ứng dụng khác. Có nhiều mục đích của việc phủ vỏ cho lớp lõi, như là biến đổi bề mặt, tăng chức năng, hiệu ứng và độ phân tán, giải phóng năng lượng của lõi, giảm bớt mức độ tiêu thụ các loại vật liệu quý. Các hạt nano vỏ/lõi có ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như y sinh và dược học, chất xúc tác, điện tử, sự phát quang nâng cao, chế tạo tinh thể photon… Trong lĩnh vực y sinh nói riêng, các hạt này có ứng dụng quan trọng trong chụp ảnh cộng hưởng từ, kiểm soát tác dụng của thuốc, đặt mục tiêu tương tác thuốc, gắn nhãn tế bào, và ứng dụng trong nuôi cấy mô.
Dựa vào việc phát triển tính chất vật liệu, các hạt nano vỏ/lõi cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mở ra hướng nhìn mới trên quan điểm kinh tế. Một loại vật 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liệu quý có thể được phủ lên trên một loại vật liệu rẻ tiền hơn nhằm giảm bớt hao phí về so với việc chế tạo loại hạt thuần nhất từ vật liệu quý. Hạt nano vỏ/lõi còn được dùng làm khuôn để điều chế các hạt rỗng sau khi đã tách phần lõi bằng phương pháp phân hủy hoặc nung khô. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực nano nói chung và hạt nano vỏ/lõi nói riêng, bởi lẽ đây đang là tâm điểm chú ý của các nhà khoa học và hứa hẹn trở thành hướng nghiên cứu mũi nhọn trong thời gian tới.
Các hướng nghiên cứu chính về hạt nano trên thế giới hiện nay liên quan đến các tính chất từ, hiệu ứng lượng tử của hạt nano, các phương pháp chế tạo hạt nano vỏ/lõi hay cấu trúc nano ứng dụng trong y sinh học. Một vài nghiên cứu đáng chú ý trên thế giới trong những năm trở lại đây như: K.Vasilakaki [1] đã nghiên cứu các đặc trưng từ của hạt nano vỏ-lõi bằng phương pháp mô phỏng Monte-Carlo sử dụng thuật toán Metropolis. Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối tương quan giữa trường từ HE, trường kháng từ HC và nhiệt độ khối Tb cũng như sự khác biệt của những đại lượng này so với loại vật liệu nano SW (Stoner Wohfarth), ngoài ra còn khảo sát được sự đảo chiều từ hóa của hạt nano lõi sắt từ/vỏ phản sắt từ. Trong công trình nghiên cứu của Yusuf Kocakaplan và Mehmet Ertas [2] nhóm tác giả đã sử dụng lý thuyết trường hiệu dụng và sự tương quan để khảo sát các tính chất từ như độ từ hóa, nội năng, nhiệt dung riêng, entropy, năng lượng tự do Helmholtz, biểu đồ trạng thái của hệ dây nano Ising lục giác Blume-Capel cấu trúc vỏ/lõi.
Tuy rằng đây mới chỉ là nghiên cứu về mặt lý thuyết nhưng các tác giả rất hy vọng rằng đó có thể trở thành tiền đề cho những nghiên cứu sâu xa hơn về tính chất từ của hạt nano cũng như những khảo sát trong thực tế. Ersin Kantar, Bayram Deviren, và Mustafa Keskin [3] nghiên cứu từ tính của hạt nano Ising với cấu trúc lõi spin 1/2 và vỏ spin 3/2 bằng phương pháp lý thuyết trường hiệu dụng và hàm tương quan. Đặc biệt nhấn mạnh đến hiệu ứng trường bán dẫn, tương tác vỏ/lõi và giao diện các cặp từ hóa, điểm bù, độ cảm biến từ và độ trễ từ, ngoài ra, năng lượng tự do của hệ cũng được khảo sát nhằm mục đích khẳng định tính ổn định của các nghiệm số. Theo giá 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị của hàm Hamiltonian, hệ chỉ trải qua chuyển pha loại 2.
Một số đặc tính đã được tìm ra như: sự tồn tại của vòng lặp trễ loại 3 đối với các giá trị thích hợp của các tham số chịu ảnh hưởng của trường bán dẫn, nhiệt độ và giao diện ghép nối của hệ. Nghiên cứu Monte Carlo về hạt nano vỏ/lõi sắt từ của nhóm tác giả Erol Vatansever và Hamza Polat [4] đã khảo sát bằng thực nghiệm ảnh hưởng của kích thước khối quặng sắt từ lên các tính chất từ khác (moment từ, nhiệt độ Curie…), các kết quả đạt được đều được lý giải bằng các phương pháp lý thuyết khác nhau trong phạm vi mô hình vỏ/lõi và đều đạt chất lượng.