Mở đầu: Thực trạng và yêu cầu thực tế mang tính cấp thiết của xã hội đối với nội dung mà đề tài sẽ nghiên cứu 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng I: Tổng quan Trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc, nhƣ̃ng biể u hiê ̣n biến đổi mƣa ở khu vực Tây Nguyên và tác động của nó. Chƣơng II: Số liệu và phƣơng pháp nghiên cứu Phân tích và tuyển chọn số liệu của 56 trạm khí tƣợng thủy văn và đo mƣa nhân dân kiểm tra, thống kê và biên tập chuỗi số liệu Lựa chọn phƣơng pháp nghiên cứu Tính toán các đặc trƣng thống kê: Tổng lƣợng mƣa tháng, năm, mùa; Số ngày có mƣa trong tháng, năm, mùa, các giá trị lớn nhất, Độ dài mùa mƣa. Chƣơng III: Kết quả và phân tích Đánh giá và phân tích xu thế biến đổi của các đặc trƣng mƣa Kết luận. * Một số đặc trƣng sẽ đƣợc nghiên cứu trong luận văn đó là: - Tổng lƣợng mƣa năm (I-XII), Tổng lƣợng mƣa mùa khô (XI-IV); Tổng lƣợng mƣa mùa mƣa (V-X); Tổng lƣợng mƣa mùa Đông (XII-II); Tổng lƣợng mƣa mùa Xuân (III-V); Tổng lƣợng mƣa mùa Hè (VI-VIII); Tổng lƣợng mƣa mùa Thu (IX-XI); - Tổng số ngày mƣa trong tháng, năm; Số ngày mƣa trong mùa khô (XI-IV); Số ngày mƣa trong mùa mƣa (V-X); Số ngày mƣa trong mùa Đông (XII-II); Số ngày mƣa trong mùa Xuân (III-V); Số ngày mƣa trong mùa Hè (VI-VIII); Số ngày mƣa trong mùa Thu (IX-XI); - Tổng lƣợng mƣa tháng, ngày, Biến trình năm; - Mùa mƣa và độ dài mùa mƣa.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Điều kiện khí hậu của một khu vực đặc trƣng bởi chế độ nhiệt, ẩm, mƣa, gió…trong đó yếu tố mƣa đóng vai trò hết sức quan trọng và có khả năng chi phối đối với các biến còn lại, căn cứ vào hiệu số của tổng lƣợng mƣa và tổng lƣợng bốc hơi có thể tính toán đƣợc trữ lƣợng ẩm của từng khu vực. Lƣợng mƣa nhiều, ít có tác dụng phản ánh khả năng cung cấp ẩm cho khí quyển là cao hay thấp, mức độ ẩm trong khí quyển đƣợc trữ dƣới dạng tiềm nhiệt và ẩn nhiệt biểu hiện dƣới dạng không khí “ẩm” hay “khô” hoặc khí quyển “nóng” hay “lạnh”, sự biến đổi của độ ẩm trong khí quyển là tiền đề cho sự biến đổi của thời tiết và khí hậu. Biến đổi của lƣợng mƣa theo không gian và thời gian dẫn đến hệ quả của nó gây tác động tích cực hay tiêu cực đối với mỗi khu vực, mặc dù với cùng lƣợng mƣa giống nhau khí hậu có thể rất khác nhau nếu tần số và cƣờng độ mƣa khác nhau, hạn hán xảy ra ở nơi có lƣợng mƣa ít và nhiệt độ cao làm trầm trọng hơn mức độ khô hạn. Mƣa, lũ không những gây thiệt hại về kinh tế xã hội mà còn đe dọa tới tính mạng con ngƣời và hủy hoại môi trƣờng sống.
Dƣới tác động của biến đổi khí hậu, diễn biến của các hiện tƣợng thời tiết, khí hậu cực đoan hết sức phức tạp; trong đó có sự thay đổi của yếu tố mƣa không những về lƣợng, cƣờng suất mà còn thay đổi cả về phạm vi ảnh hƣởng theo không gian. Chính vì vậy, nghiên cứu sự biến đổi của lƣợng mƣa là một trong những bài toán thu hút đƣợc sự quan tâm của không chỉ những nhà khí tƣợng học mà còn của các nhà khoa học khác. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC CỦA LUẬN VĂN 1.1 Nghiên cứu ngoài nƣớc Giáng thủy là một đại lƣợng rất quan trọng vì sự biến đổi của những hình thế giáng thủy có thể dẫn đến lũ lụt hoặc hạn hán ở những vùng khác nhau. Chính vì vậy, thông tin về sự biến đổi giáng thủy theo không gian cũng nhƣ theo thời gian là rất cần thiết không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
Trên thế giới, những nghiên cứu này đƣợc thực hiện với nhiều thời kỳ khác nhau và với các qui mô không gian khác nhau: qui mô toàn cầu (Diaz, 1989), qui mô bán cầu (Bradley, 1987), qui mô khu vực (Schoenwiese,1990, 1994; Piervitali và CS, 1998)và qui mô địa phƣơng (Busuioc và von Storch, 1996; Baeriswyl, 1997). Schoenwiese và CS(1994) và Schoenwiese và Rapp(1997) đã đƣa ra một nghiên cứu khái quát về sự biến đổi mùa của xu thế giáng thủy 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở một số nƣớc Châu Âu trong thời kỳ 1961-1990và 1891-1990. Từ năm 1961-1990 là xu thế tăng lên của giáng thủy vào mùa xuân ở phía bắc nƣớc Ý và xu thế giảm vào mùa thu ở phía nam Châu Âu, trong khi đó đối với thời kỳ 1891-1990 lại quan trắc đƣợc một xu thế khí hậu khô hơn ở một vài vùng trên khu vực Địa Trung Hải. Nghiên cứu của Piervitali và CS (1998)cho thấy một xu thế giảm lƣợng giáng thủy năm ở vùng trung tâm của phía tây Địa Trung Hải trong thời kỳ 1951-1995.
Một vài nghiên cứu về sự biến đổi dài hạn của lƣợng giáng thủy năm trung bình ở phía tây bắc Trung Quốc. Shi và CS (2003)và lƣợng giáng thủy mùa hè (tháng 6, 7 và 8) ở vùng phía đông Trung Quốc đƣợc thực hiện trong những năm gần đây (Weng và CS, 1999; Gong và Ho, 2002). Những nghiên cứu này đã cho thấy sự tồn tại của biến đổi thập kỷ của giáng thủy và chỉ ra một số cơ chế liên quan tới sự biến đổi của hoàn lƣu qui mô lớn trong hệ thống gió mùa mùa hè Đông Á. Sự biến đổi của hoàn lƣu quy mô lớn có thể ảnh hƣởng tới hoạt động của đối lƣu do đó qui định cƣờng độ và tần suất của những hiện tƣợng mƣa.
Theo Qian và Lin(2005), xu thế giảm về cƣờng độ và tần suất giáng thủy thể hiện từ vùng đông bắc Trung Quốc đến vùng phía bắc Trung Quốc và vùng thƣợng lƣu của thung lũng sông Dƣong Tử, tuy nhiên xu thế tăng lên ở vùng Xinjiang và Đông Nam Trung Quốc. Các hình thế giáng thủy khu vực này gây ra chủ yếu bởi các hình thế không gian của những hệ thống hoàn lƣu qui mô lớn ở qui mô thời gian từ mùa đến năm. Xu thế của chuỗi số liệu lƣợng mƣa cực trị thời kỳ 1961-1998 cho khu vực Đông Nam Á và Nam Thái Bình dƣơng đã đƣợc Manton và CS (2001) phân tích, đánh giá. Việc chọn số liệu giai đoạn 38 năm này là để tối ƣu hóa số liệu sẵn có giữa các vùng trong khu vực.
Sử dụng số liệu chất lƣợng tốt từ 91 trạm của 15 nƣớc, các tác giả đã phát hiện đƣợc sự tăng đáng kể của số ngày nóng và đêm ấm trong năm, và sự giảm đáng kể số ngày lạnh và đêm lạnh trong năm. Những xu thế này trong chuỗi cực trị là khá ổn định trong khu vực. Số ngày mƣa (với ít nhất 2mm/ngày) giảm đáng kể trên toàn Đông Nam Á phía tây và trung tâm Nam Thái Bình dƣơng, nhƣng tăng ở phía bắc quần đảo Polynesia thuộc Pháp ở Fiji, và ở một vài trạm thuộc Australia. Một số công trình nghiên cứu về các yếu tố và hiện tƣợng khí hâu cực trị đƣợc thực hiện cho các nƣớc Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.
Manton và CS(2001) đã xem xét xu thế giáng thủy ngày cực đại từ năm 1961 đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nam Thái Bình Dƣơng. Kết quả cho thấy số ngày mƣa (ngày có lƣợng mƣa từ 2mm trở lên) nhìn chung giảm đáng kể ở khu vực Đông Nam Á. Phân tích số liệu giáng thủy ngày ở các nƣớc khu vực Đông Nam Á trong thời kỳ từ 1950 đến 2000, Endo và CS (2009) đã chỉ ra rằng số ngày ẩm ƣớt (ngày có giáng thủy trên 1mm) có xu thế giảm ở hầu hết các nƣớc này, trong khi đó cƣờng độ giáng thủy trung bình của những ngày ẩm ƣớt lại có xu thế tăng lên. Mƣa lớn tăng lên ở phía nam Việt Nam, phía bắc Myanma và ở đảo Visayas và Luzon của Philipin trong khi đó lại giảm ở phía bắc Việt Nam.
Số ngày khô liên tiếp cực đại năm có xu thế giảm ở những khu vực bị ảnh hƣởng bởi giáng thủy trong thời kỳ gió mùa mùa đông. Sự giảm hiện tƣợng mƣa trong thời kỳ mùa khô cũng đƣợc tìm thấy ở Myanma. Jose và Cruz (1999) đã chỉ ra rằng biến đổi giữa các năm của lƣợng mƣa trên hầu hết các khu vực ở Philippin chịu ảnh hƣởng của ENSO, với điều kiện khô (ẩm) không thƣờng xuyên tƣơng ứng với những năm ENSO ấm (lạnh) trong hầu hết các năm. Lyon và CS (2006) đã chỉ ra rằng lƣợng mƣa trong mùa tƣơng ứng với các năm ENSO có sự thay đổi trái ngƣợc giữa mùa hè bắc bán cầu (tháng VI-tháng IV) và mùa thu (tháng X- XII) trong suốt pha ENSO.
Liebmann (2002) đã đánh giá biến trình năm của lƣợng mƣa theo mùa trên lƣu vực sông Amazon-Brazil dựa trên mối quan hệ của nó với nhiệt độ bề mặt nƣớc biển Thái Bình Dƣơng nhiệt đới và Đại Tây Dƣơng. Mối tƣơng quan tuyến tính cho thấy lƣợng mƣa có mối quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ bề mặt biển. Khu vực lƣợng mƣa có mối quan hệ chặt chẽ với SST đƣợc xác định ở khu vực xích đạo thuộc Amazon Brazil. Mối tƣơng quan tốt đƣợc tìm thấy trong mùa chuyển tiếp giữa chế độ ẩm ƣớt và khô, hoặc hoàn toàn trong mùa khô.
Các nghiên cứu khác về sự biến đổi của mƣa cũng cho thấy có sự thay đổi trên cáckhu vực khác nhau, nghiên cứu của (A.Ristoiu 2013) tại phía đông bắc Romania đƣợctính toán với chuỗi số liệu 50 năm (1961-2010) bằng cách sử dụng dữ liệu mƣa ngày từ 10 trạm khí tƣợng, với kỹ thuật Kriging Detrended mô tả phân bố không gian của mƣa, sử dụng phƣơng pháp tính độ dốc Sen để phân tích biến đổi theo thời gian của chuỗi số liệu sau đó dùng kiểm nghiệm phi tham số Mann-Kendall. Kết quả cho thấy có sự tƣơng phản giữa các khu vực miền núi phía tây mƣa nhiều hơn và miền đông khô hơn, khu vực đông nam của khu vực phân tích có điều kiện đặc biệt khô là vào mùa Xuân và mùa Hè, phân tích chuỗi thời gian nhiều năm cho thấy xu hƣớng tăng của lƣợng mƣa 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong khu vực phân tích. Phân tích thời gian từng mùa cho thấy sự tăng lƣợng mƣa trong mùa Hè và mùa Thu và giảm vào mùa Đông và mùa Xuân, tuy nhiên, hầu hết các xu hƣớng mùa Thu và giảm vào mùa Đông và mùa Xuân, tuy nhiên, hầu hết các xu hƣớng này là không rõ rệt.1 : Phân bố không gian mùa mƣa ở phía bắc Romania (1961- 2010),(A.