MỞ ĐẦU Khu vực cửa sông Tiền là một bộ phận của châu thổ sông Cửu Long - một trong hai châu thổ lớn nhất nƣớc ta. Trải qua mƣời một ngàn năm khu vực nghiên cứu đã xảy ra những biến động rất lớn về địa tầng, trầm tích, địa mạo của đới bờ, sự thay đổi đƣờng bờ và quá trình dịch chuyển của sông. Quá trình phát triển trầm tích trong Holocen vùng cửa sông Tiền đã tạo nên các địa hệ và cảnh quan tiêu biểu của một châu thổ bồi tụ mạnh mang nhiều ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế-xã hội, khoa học-kỹ thuật và an ninh quốc phòng: Địa hệ các giồng cát hình lƣỡi liềm phân nhánh quay lƣng về phía biển. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng về cát vật liệu xây dựng và cát san lấp với trữ lƣợng lớn; Địa hệ các đồng bằng phù sa châu thổ phì nhiêu là diện tích trồng lúa quan trọng; Địa hệ các vùng đất ngập nƣớc và rừng ngập mặn ven biển là một dạng tài nguyên đặc thù lồng ghép đan xen giữa khai thác hệ sinh thái rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản; Địa hệ các thủy vực vịnh cửa sông là các hải cảng cho tàu thuyền lớn.
Bên cạnh đó sông Tiền còn là con đƣờng giao thông đƣờng thủy quan trọng. Với ý nghĩa thực tiễn nhƣ trên nên việc nghiên cứu quy luật hình thành và lịch sử phát triển các thành tạo Holocen khu vực cửa sông Tiền phục vụ cho công tác quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội là điều cần thiết nhằm phát triển bền vững khu vực này. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài luận văn thạc sỹ với tiêu đề: “Lịch sử phát triển trầm tích Holocen khu vực cửa sông Tiền trong mối quan hệ với sự dao động mực nước biển”. Nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đặc điểm thành phần trầm tích, tƣớng trầm tích và quy luật phân bố của chúng với sự thay đổi mực nƣớc biển trong Holocen.
Để hoàn thành luận văn theo mục tiêu trên, học viên đã thu thập một khối lƣợng tài liệu phong phú là một số giáo trình, đề tài có liên quan tới vùng nghiên cứu…. nhƣ đề tài cấp nhà nƣớc KC-09.TSKH Nguyễn Địch Dỹ làm chủ nhiệm, giáo trình trầm tích luận trong nghiên cứu Dầu khí của GS. Cùng với việc tham khảo các tài liệu, tôi đã phân tích lát mỏng thạch học bở rời, phân tích độ hạt của ba lỗ khoan (BT1,BT2 và BT3) đồng thời kế thừa một số chỉ tiêu phân tích nhƣ Kt, pH, các số liệu về cổ sinh vật. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Khu vực nghiên cứu là dải ven biển cửa sông Tiền, bao gồm phía đông nam huyện Gò Công Đông - tỉnh Tiền Giang; phần lớn huyện Thạch Phú, huyện Ba Tri, huyện Bình Đại - tỉnh Bến Tre và phía đông bắc huyện Cầu Ngang, Châu Thành, phía đông huyện Duyên Hải - tỉnh Trà Vinh. Vị trí khu vực nghiên cứu 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1.
Khí hậu, khí tƣợng Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cận xích đạo bị tác động mạnh mẽ của gió Đông Nam từ biển thổi vào. Chế độ mƣa, bão 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khu vực nghiên cứu có hai mùa rõ rệt là mùa mƣa và mùa khô. Mùa mƣa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 với hƣớng gió chủ đạo là hƣớng gió mùa Tây Nam đến Tây Tây Nam, chiếm khoảng 89% lƣợng mƣa cả năm và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với hƣớng gió chủ đạo là Bắc đến Đông Bắc, chiếm khoảng 11% lƣợng mƣa cả năm. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm từ 1.500 mm và tập trung vào hai thời kỳ, thời kỳ thứ nhất xuất hiện vào tháng 6 hoặc tháng 7, lƣợng mƣa tháng xấp xỉ 200mm, thời kỳ thứ hai xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 lƣợng mƣa tháng trên dƣới 250mm.
Diễn biến chế độ mƣa trong năm nhƣ sau: - Thời kỳ mùa mƣa thật sự (đầu tháng 6 đến cuối tháng 10). - Thời kỳ chuyển tiếp mùa mƣa sang mùa khô (cuối tháng 10 đến cuối tháng 11). - Thời kỳ mùa khô thật sự (đầu tháng 12 đến cuối tháng 4 năm sau). - Thời kỳ chuyển tiếp mùa khô sang mùa mƣa (đầu tháng 5 đến đầu tháng 6).
Chế độ mƣa nhƣ trên đã gây khó khăn không ít cho nghề trồng trọt: vào mùa khô, vùng bị xâm nhập mặn, độ chua mặn lấn sâu vào nội địa dẫn đến hạn chế khả năng trồng cây và tăng vụ, ngƣợc lại thời kỳ mùa mƣa ở đây thƣờng bị nƣớc ở thƣợng nguồn sông Mê Kông dồn về gây ra nạn ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng. Chế độ nắng Do ở vĩ độ thấp nên vùng tiếp nhận đƣợc lƣợng ánh nắng dồi dào, độ dài ban ngày lớn, bức xạ và nhiệt độ cao, thích hợp cho sự phát triển của cây trồng. Tổng số giờ nắng trong năm đạt trên dƣới 2. Trong mùa khô, số giờ nắng trung bình mỗi ngày đạt từ 8 – 9 giờ.
Tháng mùa mƣa trung bình từ 5 – 7 giờ trong ngày. Chế độ gió Chế độ gió ở đây đƣợc phân làm 2 mùa rõ rệt: Gió mùa Tây Nam hình thành từ Nam Ấn Độ Dƣơng vƣợt qua xích đạo, tác động đến các tỉnh phía Nam Việt Nam, mang đặc tính nóng ẩm, gây mƣa lớn, chiếm khoảng 90% lƣợng mƣa trong năm của tỉnh. Gió mùa Tây Nam hoạt động bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 9, mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 8. Tốc độ gió trung bình đạt 1–1,2 m/s, riêng vùng biển tốc độ gió đạt 2 – 3,9 m/s.
Tốc độ tối đa của gió đạt 10 – 18 m/s, vùng biển 12 – 20 m/s. Gió mùa Đông Bắc, còn gọi là gió chƣớng, xuất hiện vào cuối tháng 10 và kết thúc vào cuối tháng 4 tới trung tuần tháng 5 năm sau. Khả năng xuất hiện gió chƣớng tăng dần từ đầu mùa (tháng 12) và đạt cực đại vào tháng 2 hoặc 3, sau đó giảm dần. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc điểm của gió chƣớng là phát triển theo từng đợt.
Mỗi đợt từ khi phát triển cho đến lúc yếu khoảng từ 4 đến 6 ngày. Gió chƣớng có đặc tính khô hanh, gây ra hiện tƣợng khô nóng kéo dài; làm gia tăng tác động của thủy triều, khiến mặn xâm nhập sâu vào nội địa, gây thiệt hại đê biển, ảnh hƣởng xấu đến hoạt động sản xuất. Độ ẩm: Do gần biển và có hệ thống sông ngòi chằng chịt, nên độ ẩm tƣơng đối tại khu vực nghiên cứu nhìn chung khá cao, trung bình từ 76 – 86%, các huyện ven biển có độ ẩm tƣơng đối từ 83 – 91%; sự chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít nhất khoảng 15%. Vào mùa khô độ ẩm của tỉnh vào khoảng 73 – 79%, riêng vùng ven biển khoảng 79 - 84%.
Vào mùa mƣa, độ ẩm khoảng 83 – 86%, ven biển từ 85 - 91%. Nhiệt độ: Nhiệt độ của khu vực này tƣơng đối cao, Nhiệt độ bình quân hàng năm khoảng từ 26 - 27oC/năm. Tháng nóng nhất: tháng 4 (khoảng 28,9oC), tháng 5 (khoảng 29,2oC); tháng mát nhất: tháng 12, tháng 1, tháng 2 (khoảng 25 - 26oC). Trong năm, không có tháng nào nhiệt độ trung bình dƣới 20oC.
Trong ngày, nhiệt độ cao nhất xảy ra lúc quá trƣa, cao nhất tuyệt đối khoảng 36oC và thấp nhất xảy ra lúc gần sáng, thấp nhất tuyệt đối khoảng 18,1oC. Độ bốc hơi: Vào mùa khô nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lƣợng bốc hơi mạnh, bình quân từ 4 – 6 mm/ngày đêm. Vào mùa mƣa độ bốc hơi giảm đi rõ rệt còn khoảng 2,5 – 3,5 mm/ngày đêm. Riêng tháng 9 có độ bốc hơi nhỏ nhất đạt 2 - 3 mm trong một ngày đêm.
Bức xạ: Lƣợng bức xạ ở khu vực lớn và ổn định. Lƣợng bức xạ tổng cộng trung bình ngày lớn nhất vào tháng 3 (548 calo/cm2/ngày) và nhỏ nhất vào tháng 9 (397 calo/cm2/ngày) [16]. Đặc điểm thủy văn Mạng lƣới sông suối: Trƣớc đây nƣớc sông Tiền chảy ra biển Đông qua 6: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai (đã đắp đập), cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu và cửa Hàm Luông. Nhƣng hiện nay, cửa Ba Lai đã ngừng chảy do có đập và cống Ba Lai ngăn lại (năm 1999), nên hiện nay dòng sông Tiền chỉ còn 5 cửa sông đang hoạt động là: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu.
Trong vùng mạng lƣới sông, kênh, rạch phát triển mạnh mẽ, mật độ mạng lƣới thuộc vào loại lớn nhất trên lãnh thổ nƣớc ta, dao động từ 2 đến 4km/km2. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chế độ dòng chảy: Chế độ dòng chảy của khu vực nghiên cứu chịu ảnh hƣởng mạnh của nhiều yếu tố tác động: dòng chảy sông Tiền, thủy triều biển Đông, thủy triều biển Tây-vịnh Thái Lan và chế độ mƣa ở đồng bằng. Nguồn nƣớc chảy về sông Tiền là khá lớn, hằng năm có khoảng 296 tỷ m3 nƣớc từ thƣợng nguồn cộng với lƣợng nƣớc mƣa trung bình năm cung cấp cho sông Tiền khoảng 42 tỷ m3. Tổng lƣợng nƣớc hằng năm sông Tiền khoảng 338 tỷ m3.
Dòng chảy sông Tiền có hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa kiệt. Ở thƣợng lƣu mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11, mùa kiệt bắt đầu từ tháng 12 và kết thúc vào tháng 5. Có sự tƣơng phản sâu sắc giữa mùa lũ và mùa kiệt, lƣu lƣợng giữa tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất vẫn chênh lệch rất lớn. Vào mùa lũ, lƣu lƣợng tăng cao đột ngột và đạt trung bình từ 20.000m3/s, trong đó vào mùa khô lƣu lƣợng giảm nhỏ và chỉ còn khoảng 2.000m3/s, bằng 10 - 20% lƣu lƣợng các tháng mùa lũ [16].
Đặc điểm hải văn Chế độ thủy triều: Vùng nghiên cứu có chế độ bán nhật triều không đều. Hầu hết các ngày trong tháng có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống với chênh lệch rõ rệt giữa các độ cao nƣớc ròng. Độ lớn triều trong vùng khoảng 3-4 m trong kỳ nƣớc cƣờng và 1,5-2m vào kỳ nƣớc kém. Tốc độ thủy triều ở khu vực này lên xuống khá nhanh, có thể đạt 0,5-0,6 m/giờ.
Biên độ triều có xu hƣớng giảm dần về phía Trà Vinh. Tại các cửa sông lớn trong vùng chế độ thủy triều diễn ra phức tạp hơn, đặc biệt vào mùa mƣa do lƣợng nƣớc sông đổ ra biển lớn nên mực nƣớc tại đây tăng lên. Chế độ sóng: Sóng biển đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong các quá trình động lực ven bờ, đặc biệt là vận chuyển trầm tích.