Đặc điểm và lịch sử phát triển bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn

Luận văn thạc sĩ HUS khám phá đặc điểm và lịch sử phát triển bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn, cung cấp cái nhìn sâu sắc về địa chất.

Chuyên ngành

Địa chất học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2014

85
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU

1.1. VỊ TRÍ VÙNG NGHIÊN CỨU

1.2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT

1.2.1. Giai đoạn trước năm 1975

1.2.2. Giai đoạn sau giải phóng đến năm 1986

1.2.3. Giai đoạn 1987 đến nay

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. CƠ SỞ TÀI LIỆU

2.1.1. Tài liệu địa vật lý

2.1.2. Tài liệu địa chất

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phương pháp minh giải mặt cắt địa chấn

2.2.2. Phương pháp địa vật lý giếng khoan

2.2.3. Phương pháp nghiên cứu đứt gãy

2.2.4. Phương pháp đánh giá triển vọng dầu khí trên cơ sở nghiên cứu kiến tạo – địa động lực

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT BỂ TRẦM TÍCH NAM CÔN SƠN

3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG

3.1.1. Các thành tạo trước Cenozoi

3.1.2. Các thành tạo tuổi Đệ Tam

3.2. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG MAGMA

3.2.1. Đặc điểm các đá xâm nhập

3.2.2. Đặc điểm các đá phun trào

3.3. ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO

3.3.1. Vị trí của bể Nam Côn Sơn trong phông kiến tạo khu vực

3.3.2. Đặc điểm kiến tạo đứt gãy

3.3.3. Phân tầng cấu trúc theo phương thẳng đứng

3.3.4. Phân vùng cấu trúc theo phương nằm ngang

4. CHƯƠNG 4: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT BỂ TRẦM TÍCH NAM CÔN SƠN

4.1. GIAI ĐOẠN TRƯỚC TÁCH GIÃN: PALEOCEN - EOCEN

4.2. GIAI ĐOẠN TÁCH GIÃN : OLIGOCEN - MIOCEN SỚM

4.3. GIAI ĐOẠN SAU TÁCH GIÃN: MIOCEN GIỮA - ĐỆ TỨ

4.4. TRIỂN VỌNG DẦU KHÍ BỂ NAM CÔN SƠN

4.4.1. Tiềm năng đá sinh

4.4.2. Tiềm năng đá chắn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn

Bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn là một trong những bồn trầm tích quan trọng ở Việt Nam, nằm ở phía đông nam thềm lục địa. Bồn này không chỉ có giá trị về mặt địa chất mà còn chứa đựng tiềm năng dầu khí lớn. Việc nghiên cứu đặc điểm và lịch sử phát triển của bồn trầm tích này giúp hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của nó trong bối cảnh địa chất toàn cầu.

1.1. Đặc điểm địa chất của bồn trầm tích Cenozoi

Bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn có cấu trúc địa chất phức tạp với nhiều thành tạo khác nhau. Các thành tạo này chủ yếu được hình thành trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử địa chất, từ Paleogen đến Đệ Tứ. Đặc điểm địa chất này không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc bồn mà còn quyết định đến tiềm năng dầu khí của khu vực.

1.2. Vị trí và tầm quan trọng của bồn trầm tích

Bồn trầm tích Nam Côn Sơn nằm trong khu vực có vị trí chiến lược, tiếp giáp với các bồn trầm tích khác như bể Cửu Long và bể Phú Khánh. Vị trí này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm và khai thác dầu khí mà còn là nơi giao thoa của nhiều quá trình địa chất.

II. Lịch sử phát triển bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn

Lịch sử phát triển của bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn được chia thành ba giai đoạn chính: trước năm 1975, sau giải phóng đến năm 1986, và từ năm 1987 đến nay. Mỗi giai đoạn đều có những đặc điểm riêng về hoạt động nghiên cứu và khai thác dầu khí.

2.1. Giai đoạn trước năm 1975 Khởi đầu nghiên cứu

Trước năm 1975, hoạt động nghiên cứu địa chất ở bồn trầm tích Nam Côn Sơn còn hạn chế. Một số công ty nước ngoài đã tiến hành khảo sát địa chấn và khoan giếng, nhưng chưa có kết quả rõ ràng về tiềm năng dầu khí. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào việc xác định cấu trúc địa chất và đánh giá khả năng sinh dầu.

2.2. Giai đoạn sau giải phóng đến năm 1986 Đẩy mạnh thăm dò

Sau năm 1975, công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí được đẩy mạnh. Các công ty như AGIP và BOW VALLEY đã tiến hành khảo sát chi tiết và khoan nhiều giếng, góp phần làm sáng tỏ hơn về tiềm năng dầu khí của bồn trầm tích này. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế và kỹ thuật, nhiều vấn đề vẫn chưa được giải quyết triệt để.

III. Phương pháp nghiên cứu bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn

Để nghiên cứu bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn, nhiều phương pháp đã được áp dụng, bao gồm khảo sát địa chấn, phân tích mẫu đá và nghiên cứu địa vật lý. Những phương pháp này giúp xác định cấu trúc địa chất và đánh giá tiềm năng dầu khí của bồn.

3.1. Phương pháp khảo sát địa chấn

Khảo sát địa chấn là phương pháp chính được sử dụng để xác định cấu trúc địa chất của bồn trầm tích. Các tuyến địa chấn 2D và 3D đã được thực hiện để thu thập dữ liệu về độ dày và tính chất của các lớp trầm tích.

3.2. Phân tích mẫu đá và nghiên cứu địa vật lý

Phân tích mẫu đá từ các giếng khoan cung cấp thông tin quan trọng về thành phần và cấu trúc của các lớp trầm tích. Nghiên cứu địa vật lý cũng giúp đánh giá khả năng chứa và sinh dầu của bồn trầm tích.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu bồn trầm tích

Các nghiên cứu về bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn đã mang lại nhiều kết quả quan trọng, giúp định hướng cho công tác tìm kiếm và khai thác dầu khí. Những phát hiện này không chỉ có giá trị về mặt kinh tế mà còn góp phần vào việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

4.1. Tiềm năng dầu khí của bồn trầm tích

Bồn trầm tích Nam Côn Sơn được xác định có tiềm năng dầu khí lớn, với nhiều mỏ đã được phát hiện và đưa vào khai thác. Các mỏ như Đại Hùng và Lan Tây đã chứng minh được giá trị kinh tế của khu vực này.

4.2. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về địa chất bồn trầm tích mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho các quyết định đầu tư và phát triển trong ngành dầu khí. Những ứng dụng này có thể giúp tối ưu hóa quy trình khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

V. Kết luận và tương lai của bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn

Bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn có vai trò quan trọng trong ngành dầu khí Việt Nam. Việc nghiên cứu và khai thác bền vững nguồn tài nguyên này là cần thiết để đảm bảo phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tương lai của bồn trầm tích này phụ thuộc vào các nghiên cứu tiếp theo và ứng dụng công nghệ mới.

5.1. Tương lai nghiên cứu và khai thác

Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc áp dụng công nghệ mới và phương pháp hiện đại để tối ưu hóa quy trình khai thác. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn bảo vệ môi trường.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Định hướng phát triển bền vững cho bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn cần được đặt lên hàng đầu. Việc kết hợp giữa khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường sẽ đảm bảo sự phát triển lâu dài cho khu vực này.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus đặc điểm và lịch sử phát triển bồn trầm tích cenozoi nam côn sơn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1. VỊ TRÍ VÙNG NGHIÊN CỨU Bồn trũng Nam Côn Sơn (bể Nam Côn Sơn) nằm trong khoảng 6000’ đến 9045’ vĩ độ Bắc và 106000’ đến 109000’ kinh độ Đông. Bể có diện tích khoảng 100. Ranh giới của bể được ngăn cách ở phía Bắc là đới nâng Côn Sơn, phía Tây và Nam là đới nâng Khorat - Natuna, phía Đông Bắc là bể Phú Khánh, còn phía Đông được giới hạn bởi đới nâng Tư Chính – Phúc Nguyên, đây là dải nâng rìa Đông để làm ranh giới ngoài của bể Nam Côn Sơn (hình 1.

Bể Nam Côn Sơn nằm ở Đông Nam bể Cửu Long, được ngăn cách bởi khối nâng Côn Sơn và phần nổi cao nhất là đảo Côn Sơn. Bể kéo dài và trải rộng từ độ sâu 50m nước ở phía Tây cho đến trên 1.500 m nước ở phía Đông, phần kéo dài của giãn đáy Biển Đông. Bể nằm trên vỏ lục địa có thành phần và tuổi khác nhau được hình thành trong Paleozoi và Mesozoi. Phần lớn diện tích của bể Nam Côn Sơn nằm trong thềm lục địa Việt Nam có độ sâu nước biển dưới 200m nước, một điều kiện rất thuận lợi cho công tác tìm kiếm và thăm dò dầu khí, cho đến hiện nay đã phát hiện được các mỏ dầu và khí công nghiệp như: Đại Hùng, Lan Tây, Lan Đỏ v.v… Còn phần phía Bắc Đông Bắc và Đông tuy có chiều sâu nước biển khá lớn, có nơi trên 1.500m, nhưng là vùng đã được phát hiện nhiều cấu tạo có tiềm năng dầu khí cần phải quan tâm.

5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Địa chất Hình 1. Sơ đồ vị trí bể Nam Côn Sơn trong khu vực Biển Đông và kế cận 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT Hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí ở bể Nam Cơn Sơn bắt đầu từ những năm 1970 của thế kỷ trước. Đã có 26 nhà thầu dầu khí nước ngoài tiến hành khảo sát gần 60.000km địa chấn 2D và 5.400km2 địa chấn 3D, khoan 78 giếng khoan thăm dò, thẩm lượng và khai thác, xác lập được 5 mỏ và 17 phát hiện dầu khí.

Hiện tại còn 7 nhà thầu đang hoạt động. Công tác nghiên cứu tổng hợp nhằm đánh giá địa chất và tài nguyên dầu khí của bể Nam Côn Sơn đã có hàng chục công trình khác nhau, đặc biệt các đề tài và 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Địa chất nhiệm vụ cấp Ngành đã góp phần kịp thời, hiệu quả cho hoạt động thăm dò và khai thác. Tuy nhiên do điều kiện địa chất hết sức phức tạp đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu bằng các phương pháp, công nghệ mới để xác lập cơ sở khoa học cho việc hoạch định công tác thăm dò và khai thác tiếp theo ở bể trầm tích này. Dựa vào tính chất, đặc điểm và kết quả công tác của từng thời kỳ, lịch sử thăm dò và nghiên cứu địa chất - địa vật lý ở đây được chia làm 3 giai đoạn như sau: 1.

Giai đoạn trước năm 1975 Trước năm 1975, miềm nam Việt Nam chưa được giải phóng. Trong khi hoạt động địa chất ở miền bắc được đẩy mạnh thì ở miền nam chính quyền Sài Gòn ít quan tâm đến khu vực này. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khu vực cũng được triển khai. Theo tổng kết của Nguyễn Hiệp, Trần Văn Trị, Vũ Văn Minh năm 1967, sở Hải dương Hoa Kỳ đo từ hàng không trên toàn miền nam Việt Nam tỉ lệ 1:250.

Dựa trên tài liệu này, năm 1969, Hồ Mạnh Trung công bố “Khảo lược cấu trúc đồng bằng Sông Cửu Long và thảo luận về vấn đề dầu mỏ”. Sau đó, năm 1971, tác giả dự đoán trầm tích trong các bồn Cần Thơ, Cà Mau có chiều dày từ 3km – 5km có thể tìm thấy dầu khí trong các trầm tích Trias, hoặc trầm tích trẻ hơn và trong đá vôi Permi [10]. Năm 1968, Bộ Phát triển hải ngoại Anh khảo sát khoảng 290km tuyến địa chấn khúc xạ và 370km tuyến địac hấn phản xạ ngoài khơi khu vực đảo Thổ Chu. Kết quả cho biết trầm tích Mesozoi ở đây có chiều dày từ 3km – 4km.

Năm 1969-1970 công ty Ray Geophysical Mandrel khảo sát 12.121km tuyến địa chấn từ và trọng lực trên thềm lục địa nam Việt Nam [15, 16]. Năm 1971, chính quyền Sài Gòn thành lập Ủy ban Quốc gia dầu mỏ và Tổng cục Dầu hỏa và Khoáng sản, phân chia lô trên thềm lục địa và cho phép các công ty nước ngoài đấu thầu. Lúc này, toàn thềm lục địa Việt Nam trong đó có bể Nam Côn Sơn đã được các công ty dầu khí nước ngoài khảo sát, tìm kiếm, tiêu biểu như công ty MobilOil, Mandrel, Pecten, ESSO, Mobil-Keiyo, Marathon. Các nhà thầu đã thu nổ khoảng 126.000km tuyến địa chấn 2D với 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Địa chất mạng lưới tuyến 8x8km, 4x4km trên các lô và 2x2km trên các cấu tạo triển vọng.

Trên cơ sở tài liệu nhận được, các công ty đã liên kết, phân định các ranh giới địa chấn chính và xây dựng một số bản đồ đẳng thời tỷ lệ 1:100.000 cho một số lô và 1:50.000 cho các cấu tạo triển vọng như cấu tạo Dừa, Đại Hùng. Tuy nhiên mức độ chính xác của bản đồ còn chưa cao do mật độ khảo sát còn thấp. Các ranh giới tầng phản xạ chuẩn được lựa chọn theo nhiều quan điểm khác nhau, theo từng nhà thầu trên từng lô dẫn đến khó khăn trong công tác tổng hợp toàn bể. Tháng 6 năm 1973, hai công ty Robertson Reseach International Limited (Anh) và BEICIP (Pháp) phối hợp đưa ra báo cáo “Địa chất và cấu tạo triển vọng Hydrocarbon ở ngoài khơi nam Việt Nam”.

Báo cáo tập chung đánh giá khả năng sinh, chứa, chắn và tạo bẫy trong các bể trầm tích Cửu Long, Vịnh Thái Lan và Nam Côn Sơn. Năm 1975, hai nhà địa chất Hồ Đắc Đoài và Ngô Thường San đã thực hiện báo cáo “Cấu trúc địa chất và triển vọng dầu khí thềm lục địa Việt Nam”. Báo cáo đánh giá sơ lược về cấu trúc của các bồn trũng trên thềm lục địa Việt Nam và tiềm năng dầu khí trong các bồn trũng [15]. Công tác khoan cũng được các nhà thầu tiến hành vào giai đoạn này và đã có một số kết quả.

Tuy nhiên, hoạt động khoan của các nhà thầu bị ngừng lại vào thời điểm giải phóng miền nam. Cuối năm 1974 đầu năm 1975, công ty Pecten và MobilOil đã khoan 5 giếng khoan ở các lô trên các cấu tạo khác nhau là Mía – 1X, DH – 1X, Hồng – 1X và Dừa – 2X (Hình 1. Giếng Mía -1X sâu 3353m, gặp áp suất cao, không thử vỉa được. Giếng Hồng – 1X sâu 1640m, phát hiện dầu trong cát kết nhưng không có giá trị thương mại.

Giếng Dừa -1X sâu 4039m, gặp dầu tại 3048 – 3352m, thử vỉa đạt 1514 thùng dầu/ngày. Giếng Dừa – 2X sâu 3652m, bỏ dở khoan ngày 1/4/1975, giếng ĐH – 1X khoan tới 1829m (4/1975) cũng bỏ dở. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Địa chất Hình 1. Các giếng khoan thăm dò trong bể Nam Côn Sơn trong giai đoạn trước năm 1975 Công ty Mandrel đã đưa ra bản đồ dị thường từ và trọng lực tỉ lệ 1;500.000 cho toàn thềm lục địa Việt Nam.

Bản đồ này thể hiện được phần nào hình thái của các đơn vị kiến tạo và lớp phủ Cenozoi trên thềm. Như vậy trong giai đoạn này, các công trình nghiên cứu vẫn còn lẻ tẻ, chưa có một báo cáo tổng hợp nào về đặc điểm cấu trúc và lịch sử phát triển địa chất của vùng hay các lô riêng biệt. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Địa chất 1. Giai đoạn sau giải phóng đến năm 1986 Sau khi giải phóng miền Nam nước nhà thống nhất, Tổng cục Dầu khí đã quyết định thành lập Công ty Dầu khí Việt Nam II (11- 1975), công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí được đẩy mạnh.

Các công ty AGIP và BOW VALLEY đã hợp đồng khảo sát tỷ mỉ (14,859 km địa chấn 2D mạng lưới đến 2x2 km) và khoan thêm 8 giếng khoan (04A- 1X, 04B- 1X, 12A- 1X, 12B- 1X, 12C- 1X, 28A- 1X và 29A- 1X). Trên cơ sở công tác khảo sát địa chất, địa vật lý và khoan, các công ty nêu trên đã thành lập một số sơ đồ đẳng thời theo các tầng phản xạ ở các tỷ lệ khác nhau và đã có báo cáo tổng kết. Công ty GECO đã thể hiện quan điểm của mình trong báo cáo “Minh giải địa chấn và đánh giá tiềm năng dầu khí thềm lục địa Việt Nam” của Daniel S.Công ty AGIP đã nêu lên một số quan điểm về cấu trúc địa chất và đánh giá khả năng dầu khí trên các lô 04 và 12.Công ty Dầu khí Nam Việt Nam (Công ty II) đã tiến hành phân tích nghiên cứu và tổng hợp tài liệu đã có, xây dựng được một số sơ đồ đẳng thời và bản đồ cấu tạo tỷ lệ 1/100.000 cho các lô và một số cấu tạo phục vụ sản xuất. Dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của Ngô Thường San, đã hoàn thành một số phương án công tác địa vật lý và khoan tìm kiếm, đặc biệt đã hoàn thành báo cáo tổng hợp “Cấu trúc địa chất và triển vọng dầu khí thềm lục địa Nam Việt Nam”, đề cập đến nhiều vấn đề lịch sử phát triển địa chất toàn vùng nói chung và bể Nam Côn Sơn nói riêng, đồng thời cũng nêu lên một số cơ sở địa chất để đánh giá triển vọng dầu khí toàn vùng nghiên cứu.

Song do những điều kiện khách quan, bức tranh chi tiết về cấu trúc địa chất trong giai đoạn này vẫn chưa được làm sáng tỏ. Sự ra đời của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro (VSP) là kết quả của hiệp định về hữu nghị hợp tác tìm kiếm - thăm dò dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Namgiữa Liên Xô (cũ) và Việt Nam vào năm 1981 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong công nghiệp dầu khí Việt Nam. Song cũng cần phải nói rằng vì những lý do khác nhau, công tác địa chất - địa vật lý chủ yếu được đầu tư vào bể 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Địa chất Cửu Long, còn đối với bể Nam Côn Sơn chỉ có một số diện tích nhất định được quan tâm, trong đó có khu vực cấu tạo Đại Hùng (VSP đã tiến hành khoan 3 giếng).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đặc điểm và lịch sử phát triển bồn trầm tích Cenozoi Nam Côn Sơn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cấu trúc và sự hình thành của bồn trầm tích này, nhấn mạnh các yếu tố địa chất và lịch sử phát triển của nó. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các đặc điểm địa chất của khu vực mà còn chỉ ra tầm quan trọng của bồn trầm tích Cenozoi trong nghiên cứu địa chất và khai thác tài nguyên.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ hus địa tầng phân tập trầm tích oligocene miocene khu vực trung tâm bể nam côn sơn, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các tầng trầm tích trong khu vực. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hus đặc điểm thành phần vật chất và lịch sử phát triển các thành tạo trầm tích dệ tứ vùng biển ven bờ tây nam việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phát triển của các thành tạo trầm tích khác trong khu vực. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ hus cấu trúc địa chất và tiến hóa kiến tạo đới đứt gãy sông cả và các vùng kế cận sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về cấu trúc địa chất và sự tiến hóa của các đới đứt gãy, liên quan mật thiết đến bồn trầm tích Cenozoi.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề địa chất trong khu vực.