Tổng quan nghiên cứu

Dải bờ biển tỉnh Bình Thuận sở hữu chiều dài 192 km trải dài từ mũi Đá Chẹt đến bãi bồi Bình Châu, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với diện tích vùng lãnh hải rộng trên 52.000 km2. Trong đó, dải ven biển thành phố Phan Thiết đóng vai trò là trung tâm kinh tế, du lịch và đô thị dịch vụ với tổng chiều dài đường bờ 57,40 km trên diện tích tự nhiên 206,45 km2. Tuy nhiên, trước tác động sâu sắc của biến đổi khí hậu toàn cầu cùng áp lực phát triển nhân sinh, dải bờ biển nơi đây đang chịu sức ép nghiêm trọng từ hiện tượng xói lở và bồi tụ. Theo báo cáo hiện trạng xói lở bờ biển Việt Nam, toàn vùng duyên hải miền Trung đã ghi nhận hơn 8.840 ha bờ biển bị xâm thực, đồng thời tồn tại 186 đoạn bờ bồi tụ gây sa bồi luồng lạch với quy mô từ 2,7 ha đến hơn 342 ha.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ chế, quy luật phân hóa không gian và tốc độ dịch chuyển của đường bờ biển thành phố Phan Thiết dưới tương tác phức tạp giữa động lực biển và công trình nhân tạo. Đề tài hướng tới mục tiêu định lượng chính xác biến động đường bờ qua các thời kỳ, phân tích nguyên nhân cốt lõi và xây dựng cơ sở khoa học phục vụ công tác quy hoạch, giảm thiểu rủi ro thiên tai. Phạm vi không gian nghiên cứu giới hạn từ 10°42'10" đến 11°00'00" vĩ độ Bắc và 108°02' đến 108°21' kinh độ Đông; phạm vi thời gian tập trung vào chuỗi dữ liệu 15 năm qua ba mốc then chốt: 2003, 2010 và 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược khi cung cấp bộ bản đồ chuyên đề và chỉ số định lượng phục vụ công tác quản trị đới bờ bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng động đới bờ và mô hình quy tắc Bruun. Mô hình Bruun giải thích phản ứng dịch chuyển ngang của đường bờ cát tương ứng với sự gia tăng mực nước biển dựa trên giá trị góc nghiêng bãi biển tan alpha dao động từ 0,01 đến 0,02, cho phép dự báo phạm vi thoái lui đường bờ gấp 50 đến 100 lần độ dâng mực nước thẳng đứng. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết địa mạo bờ biển và thủy thạch động lực học nhằm làm rõ mối tương quan giữa năng lượng sóng tác động, độ dốc sườn bờ ngầm và kích thước hạt trầm tích có đường kính trung bình từ 0,12 mm đến trên 2,0 mm tương ứng độ dốc bãi từ 2 độ đến 12 độ.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm: đường bờ ngoài (shoreline) xác định tại giao tuyến giữa mặt nước biển với bãi cát ở mức triều cao trung bình; đường bờ trong (coastline) đại diện cho ranh giới tác động cao nhất của sóng bão trong năm; chỉ số khác biệt nước chuẩn hóa NDWI và chỉ số khác biệt nước điều chỉnh MNDWI phục vụ tăng cường độ tương phản phổ giữa đối tượng nước và đất liền liền kề; cùng chỉ số mức độ tổn thương bờ biển CVI tích hợp sáu biến số hình thái và hải văn động lực.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu dữ liệu viễn thám bao gồm 2 cảnh ảnh vệ tinh quang học độ phân giải cao SPOT-5 chụp ngày 29/12/2003 và ngày 31/05/2010 (kích thước phủ trùm 60x60 km, độ phân giải kênh đơn sắc PAN đạt 2,5m) và 1 cảnh ảnh vệ tinh Sentinel-2 chụp ngày 18/05/2018 (kích thước phủ trùm 80x80 km, độ phân giải 10m). Nguồn tư liệu kiểm chứng gồm 5 mảnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1:25.000 dạng số hệ tọa độ VN-2000 và 3 mảnh bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1:50.000 xuất bản năm 2009.

Phương pháp chọn mẫu ảnh được thực hiện nghiêm ngặt dựa trên tiêu chí ảnh quang học có độ phủ mây dưới 10%, trạng thái mặt biển yên tĩnh không xuất hiện bão gió. Dữ liệu trạm khí tượng hải văn trạm Phan Thiết và phần mềm mô phỏng thủy triều wxtide32 được khai thác để chuẩn hóa mực nước triều: mốc năm 2010 đạt 1,98m, mốc năm 2018 đạt 2,05m và mốc năm 2003 đạt 1,02m (được hiệu chỉnh đường mép sóng tương đương mức 3,0m theo độ dốc bãi thực tế nhằm hạn chế sai số hình học dưới 0,5 pixel). Phương pháp phân loại không kiểm định K-means kết hợp giải đoán chuyên gia và thuật toán phân tích không gian GIS (ArcMap) được lựa chọn nhờ khả năng tự động hóa chiết tách đường bờ bán tự động, tính toán chính xác diện tích bồi xói và tốc độ dịch chuyển đường bờ trung bình hàng năm theo từng mặt cắt trắc diện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích chồng xếp bản đồ chuyên đề đa thời gian giai đoạn 2003 - 2010 và 2010 - 2018 tại 57,40 km đường bờ biển thành phố Phan Thiết ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:

  • Thứ nhất, giai đoạn 2003 - 2010 diễn ra quá trình sạt lở mạnh mẽ tại khu vực Hàm Tiến và bãi biển Đồi Dương với tốc độ xâm thực mép nước trung bình từ 1,5 đến 3,2 m/năm. Ngược lại, đoạn bờ cánh cung Hòn Rơm - Mũi Né lại ghi nhận các vệt bồi tụ cục bộ với tổng diện tích tích tụ phù sa cát đạt 14,8 ha.
  • Thứ hai, giai đoạn 2010 - 2018 thể hiện sự phân hóa không gian cực kỳ phức tạp. Đoạn bờ xã Tiến Thành chịu áp lực xói lở nghiêm trọng nhất khi mép bờ bị sóng biển ngoạm sâu vào đất liền từ 12 đến 25 m, làm biến mất hơn 18,5 ha diện tích đất ven bờ và gây hư hại cơ sở hạ tầng du lịch sinh thái.
  • Thứ ba, khu vực cửa sông Phú Hài và cảng Phan Thiết (cửa sông Cà Ty) ghi nhận quá trình bồi lấp luồng tàu và biến đổi doi cát ngầm với tổng diện tích dịch chuyển trầm tích vượt trên 22 ha, làm thu hẹp khả năng thoát lũ trong mùa mưa bão có lượng mưa đo được lên tới trên 1335 mm/năm.
  • Thứ tư, xét trên toàn bộ chu kỳ 15 năm (2003 - 2018), cán cân địa mạo nghiêng rõ rệt về phía xâm thực khi tổng diện tích xói lở cao gấp 1,6 lần tổng diện tích bồi tụ, khiến hình thái đường bờ chuyển dịch sâu về phía đất liền tại hầu hết các bãi biển du lịch trọng điểm.

Thảo luận kết quả

Diễn biến bồi xói phức tạp bắt nguồn từ sự tương tác bất đối xứng giữa các yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Về mặt tự nhiên, chế độ thủy triều hỗn hợp với biên độ đỉnh triều từ 2,5 đến 3,5 m kết hợp trường sóng gió mùa Đông Bắc có vận tốc dòng chảy tầng mặt đạt 0,4 đến 0,6 m/s đóng vai trò lực đẩy cuốn trôi vật liệu cát hạt mịn có đường kính dưới 0,5 mm. Về mặt nhân vi, các hoạt động san lấp xây dựng resort sát mép nước và khai thác khoáng sản sa khoáng titan tại dải cồn cát Mũi Né đã cắt đứt nguồn bổ sung bùn cát tự nhiên.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua hệ thống bảng tổng hợp diện tích biến động và các bản đồ đơn vị địa mạo tỷ lệ 1:25.000. Biểu đồ cột so sánh diện tích bồi - xói qua hai giai đoạn phản ánh sự suy giảm của các bãi cát tự nhiên khi bị chia cắt bởi hệ thống kè cứng bê tông tự phát. Đáng chú ý, việc xây dựng các đoạn kè thẳng dốc đứng tại một số khu nghỉ dưỡng ở Hàm Tiến đã tạo ra hiện tượng sóng phản xạ chân kè, gây xói lở thứ cấp nghiêm trọng ở hai đầu công trình tiếp giáp bãi cát tự nhiên. Phát hiện này tương đồng với các nghiên cứu biến động đới bờ tại Cửa Đại (Quảng Nam) và Gò Công Đông (Tiền Giang), khẳng định sự cần thiết phải từ bỏ giải pháp kè cứng manh mún để chuyển sang quản lý tổng hợp vùng bờ.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Triển khai xây dựng hệ thống kè mềm giảm sóng xa bờ kết hợp nuôi bãi cát nhân tạo tại các điểm nóng sạt lở Hàm Tiến và Đồi Dương, hướng tới mục tiêu triệt tiêu 40% đến 60% năng lượng sóng biển trước khi tiếp cận bờ, thực hiện trong khung thời gian 2026 - 2028 do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Xây dựng tỉnh Bình Thuận đảm nhiệm.
  • Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển tối thiểu từ 50 đến 100 m tính từ đường mực triều cao nhất theo quy định của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, nghiêm cấm các hoạt động xây dựng công trình kiên cố trên đụn cát phòng hộ, hoàn thành cắm mốc ranh giới trước năm 2027 do Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết chủ trì.
  • Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS xây dựng trạm quan trắc trực tuyến cập nhật biến động đường bờ định kỳ 6 tháng một lần bằng dữ liệu ảnh vệ tinh Sentinel-2 và ảnh radar độ phân giải dưới 3 m, vận hành liên tục từ năm 2026 do Chi cục Biển và Hải đảo tỉnh Bình Thuận quản lý.
  • Phục hồi và trồng mới 35 ha rừng phi lao chắn sóng cùng thảm thực vật cố định cát tại các khu vực nhạy cảm xã Tiến Thành và ven vịnh Mũi Né nhằm nâng cao năng lực chống xói tự nhiên đến năm 2030, do các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương chung tay thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về biển và hải đảo, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận: Sử dụng nguồn tư liệu định lượng và cơ sở dữ liệu GIS để tích hợp vào quy hoạch không gian biển và phê duyệt các dự án đầu tư ven bờ.
  • Kỹ sư công trình thủy lợi, chuyên gia đê kè và tư vấn xây dựng công trình biển: Khai thác các phân tích thủy thạch động lực học và thông số xói lở để tính toán phương án kết cấu kè giảm sóng, khối Tetrapod bảo vệ luồng cảng đạt hiệu quả kinh tế - kỹ thuật tối ưu.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc khối ngành Địa lý, Bản đồ, Viễn thám và Hệ thống thông tin địa lý: Tham khảo quy trình xử lý ảnh vệ tinh đa thời gian, phương pháp chuẩn hóa mức triều và thuật toán phân loại bán tự động K-means phục vụ nghiên cứu đới bờ.
  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, khu nghỉ dưỡng và bất động sản ven biển Phan Thiết: Đánh giá nguy cơ xói lở bờ biển dài hạn, từ đó chủ động lập giải pháp bảo vệ bãi tắm cảnh quan và đảm bảo an toàn kết cấu công trình nghỉ dưỡng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao cần phải chuẩn hóa dữ liệu thủy triều khi chiết tách đường bờ từ ảnh vệ tinh? Thủy triều tại Bình Thuận có biên độ dao động lớn từ 1,0 đến 3,5 m khiến mực nước tại thời điểm chụp ảnh năm 2003 (1,02m) khác biệt so với năm 2010 (1,98m). Nếu không hiệu chỉnh vị trí mép nước về cùng một mức tác động sóng, kết quả so sánh sẽ tạo ra sai số xói lở giả định lên tới hàng chục mét.

  2. Công nghệ viễn thám mang lại ưu thế nổi trội nào so với đo trắc địa truyền thống? Viễn thám cho phép bao quát toàn diện dải bờ biển dài 57,40 km trong thời gian tức thời với chi phí thấp hơn 70% so với phương pháp đo vẽ thủ công. Dữ liệu ảnh đa thời gian lưu trữ từ năm 2003 đến 2018 hỗ trợ đánh giá hồi quy lịch sử tiến hóa đường bờ mà trắc địa thực địa không thể tái hiện.

  3. Kè cứng bê tông có phải là giải pháp bảo vệ bờ biển tối ưu tại Phan Thiết không? Không. Kè cứng dốc đứng thường gây ra sóng phản xạ làm xói sâu chân kè và gia tăng áp lực sạt lở sang các bãi cát lân cận. Nghiên cứu khuyến nghị sử dụng giải pháp công trình mềm như kè ngầm giảm sóng kết hợp tôn tạo bãi cát để duy trì cân bằng động tự nhiên.

  4. Độ chính xác của thuật toán phân loại K-means trên ảnh SPOT-5 và Sentinel-2 đạt mức nào? Thuật toán K-means đạt độ chính xác phân tách nước và đất liền trên 85% nhờ sự tương phản rõ rệt ở kênh hồng ngoại. Khi kết hợp hiệu chỉnh đường bờ theo trắc diện đáy biển 1:50.000, sai số vị trí đường bờ được khống chế dưới 5m, hoàn toàn đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu đới bờ.

  5. Hiện tượng sạt lở bờ biển Tiến Thành diễn ra nghiêm trọng nhất vào khoảng thời gian nào? Hiện tượng sạt lở diễn ra mạnh nhất vào mùa gió Đông Bắc (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau), khi triều cường kết hợp sóng lớn có hướng vuông góc với dải bờ cát thoải dốc 2 độ, làm xói lở sâu vào đất liền từ 12 đến 25 m.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công chuỗi dữ liệu viễn thám đa thời gian gồm ảnh SPOT-5 (2003, 2010) và Sentinel-2 (2018) nhằm định lượng toàn diện biến động 57,40 km đường bờ biển thành phố Phan Thiết.
  • Làm rõ tính quy luật phân hóa không gian với hiện tượng xói lở chiếm ưu thế tuyệt đối tại Hàm Tiến, Đồi Dương, Tiến Thành và bồi tụ bồi lắng cục bộ tại các cửa sông Cà Ty, Phú Hài.
  • Xây dựng quy trình xử lý ảnh và chuẩn hóa sai số thủy triều khoa học, tạo lập bộ bản đồ chuyên đề biến động tỷ lệ 1:25.000 có độ tin cậy vị trí cao.
  • Cung cấp luận cứ khoa học quan trọng chỉ rõ tác động tiêu cực của các công trình kè cứng tự phát và hoạt động can thiệp nhân sinh lên dải cồn cát đới bờ.
  • Đề xuất khung giải pháp quản trị tổng hợp tích hợp công nghệ quan trắc viễn thám trực tuyến, công trình kè mềm giảm sóng và hành lang sinh thái bảo vệ bờ biển.

Nghiên cứu khẳng định giá trị ứng dụng to lớn của công nghệ không gian trong giám sát tai biến đới bờ. Các nhà quản lý và chuyên gia quy hoạch nên ứng dụng ngay cơ sở dữ liệu này để định hình các quyết sách phát triển kinh tế biển bền vững.