Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG CỔ PHẦN 1. Khái quát chung về công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam được xây dựng theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, các doanh nghiệp hoạt động không theo cơ chế thị trường. Tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, tạo điều kiện cho các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh ra đời và phát triển.
Qua đó, ngày 21/12/1990, Quốc hội đã thông qua Luật Công ty và đây là một dấu mốc “lịch sử” hết sức quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Luật Công ty năm 1990 đã quy định hai hình thức tổ chức công ty đó là: Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần. Cả hai loại hình công ty này đều được định nghĩa là: “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty”. Trong đó, Công ty cổ phần có các đặc điểm: “a) Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy; b) Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thể 7 mua một hoặc nhiều cổ phiểu; c) Cổ phiếu được phát hành có thể có ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên; d) Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng. Cổ phiếu có ghi tên chỉ được chuyển nhượng, nếu được sự đồng ý của Hội đồng quản trị, trừ trường hợp quy định tại Điều 39 của Luật này”.
Sau 09 năm thi hành Luật Công ty 1990, bên cạnh những đóng góp tích cực cho nền kinh tế thì Luật Công ty 1990 cũng đã bộc lộ một số bất cập, nhất là trong bối cảnh quan hệ kinh tế Việt Nam trong thời kỳ này liên tục biến đổi. Bởi lẻ đó, việc sửa đổi, thay thế các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động của các loại hình công ty là một tất yếu khách quan. Ngày 12/06/1999, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp 1999, thay cho Luật công ty 1990. Khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, khái niệm về công ty cổ phần và khái niệm về công ty trách nhiệm hữu hạn được quy định cụ thể, riêng biệt.
Khái niệm Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 1999 tiếp tục được tiếp thu và kế thừa cho Luật Doanh nghiệp 2005 được quy định tại Điều 77 và Luật Doanh nghiệp 2014 được quy định tại Điều 110. Tại Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014, thì Công ty Cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: “a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 Luật doanh nghiệp 2014. 8 đ) Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. e) Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn.” Như vậy, khái niệm Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014 về cơ bản là tương đồng với khái niệm Công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 1999.
So với Luật Công ty 1990, khái niệm Công ty cổ phần theo quy định Luật Doanh nghiệp các thời kỳ sau này đã được xây dựng và hoàn thiện để phù hợp với nền kinh tế của Việt Nam và gần với các chuẩn mực theo thông lệ quốc tế. Việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông được quy định tại điểm d khoản 1 điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014 là “Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác”, tuy nhiên trừ trường hợp quy định tại khoản 3 điều 119 và khoản 1 điều 126 của Luật này, Theo đó, tại khoản 3 điều 119 quy định: “3 Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông dự định chuyển nhượng cổ phần không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng các cổ phần đó; Và khoản 1 điều 126 quy định “1. Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần.
Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng. Đặc điểm công ty cổ phần Công ty Cổ phần có các đặc điểm như: 9 Một là, Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân, tư cách pháp nhân của công ty cổ phần phát sinh từ thời điểm công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Hai là, vốn điều lệ của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần nhỏ gọi là cổ phần, người sở hữu các cổ phần gọi là cổ đông. Số lượng cổ đông của công ty cổ phần tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng cổ đông tối đa.
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần cho người khác, trừ trường hợp (i) đối với cổ phần của cổ đông sáng lập, trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông và (ii) điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần và các quy định này được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng. Ba là, Công ty cổ phần được phép phát hành các loại cổ phần để huy động vốn. Đặc điểm này cho phép công ty cổ phần có thể huy động nguồn vốn nhanh và rất rộng rãi. Bốn là, cổ đông công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty hoặc số vốn cam kết góp vào công ty tại thời điểm lập công ty.
Với những đặc điểm nêu trên nên công ty cổ phần thường có số lượng cổ đông lớn, các cổ đông công ty cổ phần có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau và cũng có thể họ không có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước nhưng vẫn có thể đến được với nhau, gặp nhau và cùng hợp tác trên một lĩnh vực nhất định. Khái niệm cổ phần “Cổ phần” là một thuật ngữ đã được sử dụng rất phổ biến bởi các nước 10 trên thế giới và cũng có những cách định nghĩa khái niệm khác nhau. Các nước theo truyền thống dân luật thì khái niệm về cổ phần được định nghĩa là đơn vị để phân chia quyền sở hữu công ty. Bởi thế, cổ phần không có mối liên hệ gì đến vốn điều lệ của công ty.
Tại một số nước Châu Âu thì khái niệm về Cổ phần lại được định nghĩa là: Vốn điều lệ khi được chia nhỏ thành những phần bằng nhau thì mỗi phần đó gọi là cổ phần, vì vậy cổ phần là một phần của vốn điều lệ. Trên thực tế thì cổ phần cũng phản ánh mức độ quyền sở hữu của cổ đông. Cổ đông góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần và trở thành chủ sở hữu công ty. Trong khuôn khổ pháp lý của pháp luật Việt Nam chúng ta thì khái niệm cổ phần được quy định lần đầu tiên tại khoản 2 điều 30 Luật Công ty năm 1990, qua đó nêu: “Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần”.
Khái niệm này được các nhà lập pháp xây dựng và được tiếp tục kế thừa tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 (điểm a, khoản 1, điều 110). Theo đó, cổ phần là một phần của vốn điều lệ. Cổ phần được phân chia ra nhiều loại khác nhau như: cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi. Cổ phần ưu đãi bao gồm các loại như: Cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ phần ưu đãi cổ tức; Cổ phần ưu đãi hoàn lại; Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ Công ty quy định.
Người sở hữu cổ phần phổ thông được gọi là cổ đông phổ thông, điều này được thể hiện tại khoản 1 điều 113 của Luật Doanh nghiệp 2014. Đối với công ty cổ phần thì cổ phần là vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau chứ không phải là tất cả các loại vốn của công ty cổ phần được chia thành nhiều phần bằng nhau. Đây là một trong những vấn đề pháp lý cơ bản của công ty cổ phần. Cổ phần cũng là công cụ tài chính đặc biệt của công ty cổ phần.
Do vậy việc nắm giữ cổ phần trong công ty có một vai trò rất quan trọng bởi cổ phần là tài sản chứng minh tư cách sở hữu của cổ 11 đông đối với công ty cổ phần. Việc nắm giữ cổ phần có vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý công ty. Việc chuyển nhượng cổ phần xét về bản chất thì đây chính là sự dịch chuyển quyền sở hữu của cổ đông đối với cổ phần trong công ty cổ phần.