chương I, Luật Du lịch Việt nam] Như vậy, một người được gọi là KDL phải thỏa mãn 3 tiêu chuẩn: - Rời khỏi nơi cư trú thường xuyên; - Thời gian: hơn 24 giờ và dưới 1 năm; - Có mục đích: nghỉ ngơi, tham quan, hành hương, tìm hiểu, khám phá, v. trừ mục đích lao động kiếm tiền. Khách du lịch nội địa KDL nội địa là công dân của một nước đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. KDL nội địa của Việt Nam: là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Đặc điểm tâm lý khách du lịch nội địa Theo tâm lý chung của khách du lịch Việt Nam, du lịch là một kỳ nghỉ sau thời gian lao động vất vả, là thời gian để được làm “thượng đế”. Bởi thế, họ có một số những đặc điểm tâm lý sau: 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Không chấp nhận những chuyến đi có cường độ cao, di chuyển và vận động quá nhiều. - Muốn được sinh hoạt (lưu trú, ăn uống) trong những điều kiện tốt hơn ở nhà, tương xứng với chi phí họ đã bỏ ra. - Thích trò chuyện, trao đổi về những điều đã gặp và thường quan tâm đến nhau trong đoàn.
- Thích thể hiện mình trong chuyến đi. - Thích quay phim, chụp ảnh cho mình tại những điểm du lịch. • Khách lẻ Trong kinh doanh du lịch, khách lẻ được hiểu là người khách du lịch đi du lịch tự do đến một điểm du lịch mà không thông qua các chương trình hoặc sự tổ chức chuyên nghiệp của các công ty du lịch. Đối tượng khách lẻ thường bao gồm các nhóm sau: Trí thức: Luôn tôn trọng chương trình du lịch, mong đợi rất nhiều vào vai trò của hương dẫn viên.
Bình dân: Luôn mong chuyến đi được thuận lợi, được cười càng nhiều càng tốt. Việt kiều: Tự ti về quá khứ, mong sự chuyên nghiệp và tiện nghi mà chương trình mang lại. Người miền Bắc đi du lịch vào miền Nam: Tự hào về quá khứ, về thủ đô, thích lễ phép và ca ngợi quê hương đất nước. • Khách đoàn Thường do cơ quan, đoàn thể xí nghiệp, công ty, v.
tổ chức cho nhân viên đi nghỉ mát. Du khách không phải là người trực tiếp chi tiền mua chương trình du lịch nên ở khâu phục vụ, thuyết minh viên dễ bị than phiền mà lẽ ra không phải lỗi từ phía thuyết minh viên. Công nhân xí nghiệp tư nhân: Rất mong đợi chuyến đi vui vẻ, là đặc ân của “chủ” sau một năm cống hiến.Trưởng đoàn thường hợp tác, hòa đồng, không kiêu căng. Công nhân xí nghiệp nhà nước: Thường bị ép buộc tham gia, vai trò của người trưởng đoàn rất lớn, hay so sánh, hay phàn nàn, thích hướng dẫn viên thuyết minh và quản trò chừng mực.
Thích nghe nhạc cách mạng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Công nhân xí nghiệp, nhân viên công ty có vốn đầu tư nước ngoài: Vừa tham gia chương trình du lịch, vừa thực hành các hoạt động phong trào gắn kết nội bộ, chịu chi phí ngoài chương trình nhiều, luôn mong muốn và yêu cầu nhà tổ chức chương trình du lịch và hướng dẫn viên phải chuyên nghiệp và có kế hoạch chuẩn bị thật chi tiết. Điểm đến du lịch 1. Khái niệm điểm đến du lịch Điểm đến du lịch là một phạm vi cụ thể mà trong đó du khách ở lại ít nhất một đêm và chứa đựng các SPDL như các dịch vụ (DV) bổ trợ và các điểm hấp dẫn, các nguồn lực du lịch với ranh giới địa lý và hành chính xác định bởi quản lý, hình ảnh, nhận thức của cạnh tranh thị trường.
(UNWTO, 2003) Như vậy, điểm đến du lịch có thể được xác định bằng nhiều cách: hoặc theo ranh giới quản lý hành chính của một địa phương, vùng lãnh thổ, hoặc theo vùng địa lý, hay theo thị trường… nhưng phải chứa một mức độ phát triển du lịch đủ lớn có thể thoả mãn nhu cầu của du khách. Sự hấp dẫn và trải nghiệm điểm đến được hình thành bởi các yếu tố: sức hấp dẫn du lịch, các tiện nghi công cộng và cá nhân, khả năng tiếp cận, nguồn nhân lực, hình ảnh và đặc điểm, giá cả. Như vậy, sự hấp dẫn của một điểm đến du lịch phụ thuộc vào các yếu tố của cung và cầu du lịch điểm đến. Các yếu tố cơ bản của cung du lịch điểm đến (i) Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch (TNDL) là yếu tố cơ bản nhất tạo ra sức hấp dẫn điểm đến, tạo động lực ban đầu cho khách du lịch tới điểm đến.
Theo Luật Du lịch Việt Nam thì TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. [Khoản 4, điều 4, Luật Du lịch 2005] Theo nghĩa thông dụng nhất, có thể hiểu TNDL là một dạng đặc sắc của tài nguyên trên trái đất. Nó bao gồm các thành phần và những kết hợp của điều kiện, 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảnh quan thiên nhiên và thành quả lao động sáng tạo của con người có thể được sử sụng cho các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch. TNDL có thể trực tiếp hay gián tiếp tạo ra các sản phẩm du lịch (SPDL) và cung du lịch.
Như vậy, bất cứ nhân tố thiên nhiên, xã hội nhân văn nào có thể thu hút được khách du lịch đều có thể gọi là TNDL. Có nhiều quan điểm khác nhau trong phân loại TNDL. Nhưng nhìn chung, TNDL được phân thành hai nhóm: TNDL thiên nhiên và TNDL nhân văn. • Tài nguyên du lịch thiên nhiên Bao gồm yếu tố địa hình (núi đồi, đồng bằng, sông suối, hang động và bãi biển) tạo ra cảnh quan kỳ thú, yếu tố khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm của không khí, độ chiếu sáng của mặt trời, v.) thích hợp với từng loại du lịch, hệ thực vật phong phú, độc đáo và các loài động vật (thú, chim, cá, côn trùng, v.) đa dạng, điển hình cho từng vùng tạo ra sự tò mò, sự quyến rũ đối với du khách, những vùng hồ, bãi biển, nguồn nước (uống hoặc tắm) những yếu tố này có khả năng hấp dẫn du khách, lôi cuốn mạnh mẽ họ tới đó để du lịch.
• Tài nguyên du lịch nhân văn Bao gồm các di tích văn hóa di tích lịch sử cách mạng, các lễ hội, các kiến trúc đô thị, cảnh quan, các làng nghề thủ công truyền thống, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học (như điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, bản sắc vùng miền, văn hóa ẩm thực, hoạt động sản xuất với sắc thái của mỗi ngành nghề, dân tộc, vùng miền), các thiết chế văn hóa (bảo tàng, các khu tưởng niệm, các cơ sở biểu diễn nghệ thuật, thư viện, v.) cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) của khoa học – công nghệ, đào tạo, trung tâm huấn luyện thể thao, các sự kiện thể thao, triển lãm, liên hoan nghệ thuật và các sự kiện, các kỷ niệm lớn… (ii). Hệ thống giao thông và phương tiện vận chuyển Du lịch hàm ý một sự di chuyển của du khách ra khỏi nhà để đến chỗ lưu trú. Cho nên hệ thống giao thông: đường sá, sân bay, bến cảng, v. là những điều kiện để sự di chuyển đó có thể diễn ra một cách tốt nhất (ít mệt mỏi, ít tốn thời gian) và chi phí thấp nhất.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong khi đó, DV vận chuyển nhằm đưa khách từ nơi cư trú đến các điểm du lịch và ngược lại, giữa các điểm du lịch và trong phạm vi một điểm du lịch. Để thực hiện DV này, người ta có thể sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác nhau như máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, ô tô, phương tiện vận chuyển thô sơ như xa trâu, xe ngựa, xe bò kéo v. Như vậy, hệ thống giao thông và phương tiện vận chuyển là yếu tố cơ bản nhất tạo ra sự thuận tiện tiếp cận điểm đến. Hệ thống giao thông càng đầu tư phát triển, phương tiện vận chuyển du lịch càng phong phú đa dạng thì điểm đến càng tạo nên sức thu hút mạnh mẽ đối với du khách.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch CSVCKT du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và tổ chức thực hiện tiêu dùng SPDL và cung du lịch. Mức độ khai thác tiềm năng du lịch để tạo ra SPDL và sự đáp ứng các nhu cầu du lịch, tức là tạo ra cung du lịch, phụ thuộc rất nhiều vào CSVCKT du lịch. CSVCKT du lịch là yếu tố cơ bản nhất tạo ra tiện nghi sinh hoạt cho du khách. Chính vì vai trò quan trọng như vậy nên sự phát triển ngành Du lịch, sự hình thành cung du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện CSVCKT.
CSVCKT du lịch bao gồm toàn bộ các phương tiện vật chất tham gia vào việc tạo ra và tổ chức thực hiện cung du lịch nhằm đáp ứng cầu du lịch. Như vậy ngoài những cơ sở vật chất chuyên ngành Du lịch như khách sạn, nhà hàng, các khu nghỉ tổng hợp, các phương tiện vận chuyển du lịch và các trang thiết bị du lịch khác, còn có một phần CSVCKT của ngành khác như giao thông, thương nghiệp, văn hóa, y tế, bưu điện, DV công cộng v. tham gia vào quá trình tạo cung du lịch. • Cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống Là yếu tố đảm bảo cho KDL có nơi ăn, nghỉ trong quá trình thực hiện chuyến du lịch.
KDL có thể chọn một trong các khả năng nghỉ ngơi tại khách sạn, nhà trọ, nhà nghỉ, nhà người quen, lều trại và các hình thức tương tự khác. Để thỏa mãn nhu cầu ăn uống khách du lịch có thể tự mình chuẩn bị bữa ăn hay được mời đến nhà người thân hoặc bạn bè, sử dụng các DV phục vụ ăn uống của các cơ sở phục vụ ăn 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com uống như nhà hàng, quán ăn, tiệm rượu, v. Như vậy, hệ thống các cơ sở phục vụ ăn uống, lưu trú của một điểm đến du lịch cần đảm bảo chất lượng và phong phú để đáp nhu cầu hết sức đa dạng của du khách. • Khu, điểm du lịch Là yếu tố chính phục vụ nhu cầu đi du lịch cho du khách.
Do vậy, một điểm đến muốn gia tăng lượng khách đến trước hết phải có những khu, điểm du lịch đáp ứng được nhu cầu của du khách.