Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Tân Phước. Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh tại Công ty TNHH Tân Phước. e 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.
HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH 1. Hiệu quả kinh doanh Hiệu quả được hiểu là kết quả của việc làm mang lại. Điều này cho thấy hiệu quả được hiểu một cách chung nhất là một phạm trù kinh tế xã hội, là một chỉ tiêu phản ánh trình độ của con người sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia trong các hoạt động để đạt được kết quả với mục đích của mình. Đây là một khái niệm rộng, bao gồm tất cả các lĩnh vực đời sống, kinh tế, xã hội (từ sản xuất kinh doanh đến y tế, giáo dục, quốc phòng,.), nó không chỉ đề cập đến hiệu quả kinh tế mà còn có hiệu quả xã hội.
Từ đó cho thấy, đứng trên nhiều góc độ khác nhau thì sẽ có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả và HQKD như: xét về mục tiêu của chủ thể khi thực hiện thì hiệu quả được chia thành hiệu quả nói chung và hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội nói riêng; hay xét theo thời gian thực hiện thì chia thành hiệu quả trong ngắn hạn và hiệu quả trong dài hạn; xét về tính toán HQKD thì chia thành HQKD tổng thể và HQKD của từng bộ phận cá biệt; xét theo tính chất tác động thì chia thành hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp; còn xét trong quan hệ với phương thức xác định thì chia thành hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối;…Vì thế, khi đánh giá một hoạt động nói chung cũng như hoạt động kinh doanh nói riêng, chúng ta không dừng lại ở việc xem xét các kết quả thu được mà phải xem xét trong mối quan hệ giữa kết quả thu được với các chi phí (hao phí) đã bỏ ra để thực hiện hoạt động đó. e 12 Tại các DN hiện nay, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận. Muốn vậy, DN phải sử dụng các nguồn lực xã hội nhất định. DN càng tiết kiệm sử dụng các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu.
HQKD là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm của các nguồn lực xã hội nên là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của DN. HQKD càng cao càng phản ánh DN đã sử dụng tiết kiệm các nguồn lực sản xuất. Chính việc nâng cao HQKD là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi DN. Các DN có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để đạt được mục tiêu này.
Vì thế, đối với các DN, HQKD không những là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn. HQKD là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ tận dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Tuy nhiên, kết quả đó được tạo ra ở mức nào, với giá nào là vấn đề cần xem xét vì nó phản ánh chất lượng của hoạt động để tạo ra kết quả. Chính vì vậy, khi đánh giá hoạt động kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh để tạo ra nó.
HQKD càng cao thì DN càng có điều kiện phát triển kinh tế, đầu tư, mua sắm máy móc cho kinh doanh, cải thiện và nâng cao đời sống người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. Tùy thuộc vào lĩnh vực và góc độ nghiên cứu mà quan điểm về HQKD của các nhà nghiên cứu cũng có những sự khác biệt nhất định. Nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá"[19]. Theo quan điểm này của Adam Smith đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên, điều này chỉ đúng khi kết quả sản e 13 xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất. Hạn chế của quan điểm này là kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng lên do chi phí sản xuất tăng hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất. Nếu với cùng một kết quả sản xuất kinh doanh có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này cũng có hiệu quả. Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất.
Theo quan điểm của Paul Samelson - một đại diện tiêu biểu cho học thuyết hiện đại cho rằng: “HQKD là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người” [12]. Quan điểm của ông nói lên HQKD chính là cách mà con người sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của họ, tuy nhiên cách thức sử dụng nguồn lực như thế nào thì được xem là hữu hiệu nhất vẫn còn mang tính trừu tượng, quan điểm của ông vẫn chưa nêu lên được mối quan hệ vận động tương quan giữa các nguồn lực đầu vào và các yếu tố đầu ra. Theo quan điểm của tác giả Ngô Đình Giao thì cho rằng: “HQKD là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn cho các DN trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” [6]. Theo quan điểm trên, mục đích cuối cùng của các DN là hướng đến tối đa hóa lợi nhuận, do đó trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì việc lựa chọn cách quản lý để có HQKD cao nhất sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất.
Quan điểm trên chưa nêu lên được vai trò của HQKD trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Theo quan điểm của Đỗ Hoàng Toàn (1994): "HQKD là chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm. Bất e 14 kỳ các quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép, giải pháp thực hiện có tính cân nhắc, tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể"[21]. Theo quan điểm này, HQKD được coi như một chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp để ra quyết định.
Mà mục tiêu của nhà đầu tư luôn là tối đa hóa lợi nhuận nên các phương án, các quyết định phải được lựa chọn trong quá trình hoạt động thực tiễn tại mọi thời điểm một cách phù hợp và cân nhắc để đạt HQKD cao nhất. Tuy quan điểm trên rất chặt chẽ và phù hợp với sự tất yếu của các quy luật khách quan nhưng nó chỉ nêu lên những chỉ tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp, chưa nêu lên được những ưu thế hay khuyết điểm của các chỉ tiêu khác nhau trong nền kinh tế làm ảnh hưởng đến HQKD. Theo quan điểm của Nguyễn Văn Công (2009) cho rằng: “HQKD là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của DN để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh với chi phí thấp nhất”[2]. Quan điểm này cho thấy HQKD khác với kết quả kinh doanh và có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với kết quả kinh doanh.
Kết quả kinh doanh bao gồm cả HQKD của DN và hiệu quả xã hội do DN tạo ra. Chính vì vậy, khi đánh giá hoạt động kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh để tạo ra kết quả đó. Từ những quan điểm và phân tích trên, tác giả cho rằng: HQKD là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra ở mức độ nào.
Như vậy, bản chất của HQKD là hiệu quả của các nguồn lực, lao động xã hội được xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí nguồn lực, lao động xã hội. Do vậy, thước đo HQKD là sự tiết kiệm hao e 15 phí nguồn lực, lao động xã hội và tiêu chuẩn của HQKD là việc tối đa hóa kết quả hoạt động đạt được hoặc tối thiểu hóa chi phí bỏ ra dựa trên nguồn lực, tài lực sẵn có. Đồng thời, HQKD phải được xem xét trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể; phải xem xét về phương diện hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. - Xét về mặt thời gian, hiệu quả mà DN đạt được trong từng giai đoạn, từng thời kỳ, từng kỳ kinh doanh không được làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, các thời kỳ và các kỳ kinh doanh tiếp theo.
Điều đó đòi hỏi bản thân DN không vì những lợi ích trước mắt mà quên đi những lợi ích lâu dài. Trong thực tế kinh doanh, điều này rất dễ xảy ra khi con người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên, môi trường và cả nguồn lao động. Không thể coi việc giảm chi để tăng thu nhập là có hiệu quả được khi việc giảm chi tiến hành một cách tùy tiện, thiếu cân nhắc, không xét đến các chi phí cải tạo môi trường tự nhiên, cải tạo đất đai, bảo đảm cân bằng sinh thái, đổi mới kỹ thuật, nâng cao trình độ người lao động,… Tương tự như vậy, không thể coi là có hiệu quả lâu dài được khi DN xóa bỏ hay vi phạm hợp đồng với một khách hàng truyền thống, tín nhiệm để chạy theo một hợp đồng khác mang nhiều lợi nhuận tức thời nhưng không ổn định,… - Xét về mặt không gian, HQKD chỉ có thể coi là đạt được một cách toàn diện khi toàn bộ hoạt động của các bộ phận, các phân xưởng,… mang lại hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung.