CHƯƠNG I : ĐẶC ĐIỂM KHOẢN MỤC TSCĐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY. Tổng quan về kiểm toán BCTC. Khái niệm về kiểm toán BCTC. Thuật ngữ về kiểm toán BCTC thực sự xuất hiện và được sử dụng ở Việt Nam từ những năm đầu của thập kỷ 90, nên trong cách hiểu và cách dùng khái niệm về kiểm toán BCTC viên chưa được thống nhất.
Tuy nhiên, nếu nói theo cách hiểu chung nhất thì kiểm toán BCTC được hiểu như sau: Kiểm toán BCTC là hoạt động xác minh và bầy tỏ ý kiến về các Bảng khai tài chính bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các KTV có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện dựa trên hệ thống pháp lý đang có hiệu lực. Chức năng xác minh của kiểm toán nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các BCTC. Do quan hệ kinh tế ngày càng phức tạp và yêu cầu pháp lý ngày càng cao nên việc xác minh BCTC hướng theo hai mặt: - Tính trung thực của các con số. - Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính.
Chức năng bầy tỏ ý kiến có thể được hiểu với ý nghĩa là kết luận về chất lượng thông tin, tính pháp lý và cả tư vấn thông qua xác minh. Điều này được thể hiện qua Báo cáo kiểm toán của KTV. Đối tượng kiểm toán BCTC và các cách tiếp cận. Đối tượng của kiểm toán BCTC.
Đối tượng của kiểm toán BCTC là các Bảng khai tài chính. Đó là “Hệ thống Báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị” (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 đoạn 4) gồm Bảng tổng hợp cân đối kế toán, Báo các SV: Dương Tiến Pháp 4 Lớp: Kiểm toán 50C Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Đinh Thế Hùng kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh BCTC. Bên cạnh đó BCTC còn bao gồm những bảng kê khai có tính pháp lý như: Bảng kê khai tài sản cá nhân, Bảng kê khai tài sản đặc biệt, Bảng kê khai theo yêu cầu đặc biệt của chủ đầu tư.
Đó là các bảng tổng hợp và đều chứa đựng những thông tin được lập ra tại một thời điểm cụ thể trên cơ sở các tài liệu kế toán tổng hợp và chi tiết theo những quy tắc xác định. Các cách tiếp cận kiểm toán. Trong mối quan hệ với các đối tượng của mình, kiểm toán tài chính có quan hệ trực tiếp với các Bảng khai tài chính nhưng để kiểm tra được tính hợp lý chung trên các Bảng khai tài chính, kiểm toán tài chính không thể tách rời các tài liệu kế toán, các hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý của đơn vị nhằm xác minh cụ thể độ tin cậy của từng khoản mục cũng như mối quan hệ kinh tế chứa đựng trong số dư và các chỉ tiêu tài chính. Vì vậy, kiểm toán tài chính có hai cách cơ bản để phân chia các Bảng khai tài chính thành các phần hành kiểm toán: Đó là kiểm toán theo khoản mục và kiểm toán theo chu trình.
Đối với kiểm toán TSCĐ KTV tiến hành kiểm toán theo khoản mục. Kiểm toán theo khoản mục: tức là tiến hành kiểm toán theo khoản mục hoặc từng nhóm các khoản mục theo thứ tự trên Bảng khai tài chính. Cách phân chia này đơn giản, phù hợp với các Công ty kiểm toán quy mô nhỏ, số lượng KTV còn hạn chế. Kiểm toán theo chu trình: Căn cứ vào mối liên hệ giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành trong một chu trình chung của hoạt động tài chính chia thành: - Kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền; - Kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán; - Kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên; - Kiểm toán chu trình hàng tồn kho; SV: Dương Tiến Pháp 5 Lớp: Kiểm toán 50C Chuyên đề thực tập GVHD: TS.
Đinh Thế Hùng - Kiểm toán chu trình vốn bằng tiền; - Kiểm toán chu trình huy động và hoàn trả. Kiểm toán chu trình phức tạp và phù hợp với các Công ty kiểm toán lớn với số lượng cũng như chất lượng của đội ngũ KTV đông đảo. Kiểm toán khoản mục TSCĐ trong Kiểm toán BCTC. Khái niệm TSCĐ.
TSCĐ là những tư liệu sản xuất không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là những tài sản có giá trị lớn và có thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tiêu chuẩn giá trị của chúng được quy định phù hợp với tình hình thực tế và các chính sách kinh tế, tài chính của Nhà nước. TSCĐ gồm 2 loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
Mỗi loại tài sản có tính hữu ích khác nhau và yêu cầu quản lí cũng khác nhau nên phải tổ chức ghi chép trên những tài khoản khác nhau. Theo chuẩn mực Kế Toán Việt Nam số 03 thì TSCĐ hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ hữu hình.Cụ thể các tài sản được ghi nhận làm TSCĐ hữu hình phải thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. - Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy. - Thời gian sử dụng trên một năm.
- Có đủ tiêu chuẩn theo quy định hiện hành. Theo điều 3 quyết định 32/2008/QĐ-BTC ban hành ngày 29/05/2008 của Bộ Tài chính quy định tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên (bắt đầu áp dụng cho năm tài chính 2009). SV: Dương Tiến Pháp 6 Lớp: Kiểm toán 50C Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Đinh Thế Hùng TSCĐ vô hình, theo chuẩn mực Kế Toán Việt Nam số 04 là tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình.
Ngoài 2 loại tài sản đó ra còn có tài sản đi thuê. Trong tài sản đi thuê có Tài sản thuê tài chính và Tài sản thuê hoạt động. Theo chuẩn mực Kế Toán số 06 thì thuê tài sản là sự thoả thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc bên cho thuê chuyển quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong một khoảng thời gian nhất định để được nhận tiền cho thuê một lần hoặc nhiều lần. Tài sản thuê hoạt động, theo chuẩn mực Kế Toán số 06 là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê.
Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. Tài sản thuê hoạt động, cũng theo chuẩn mực Kế Toán số 06 thì đó là tài sản đi thuê nhưng không phải là Tài sản thuê tài chính. Theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC (Bắt đầu áp dụng cho năm tài chính 2009), thuê tài chính là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê.
* Các trường hợp thuê tài sản sau đây thường dẫn đến hợp đồng thuê tài chính: - Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho thuê khi kế thúc thời hạn thuê. - Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn thuê. SV: Dương Tiến Pháp 7 Lớp: Kiểm toán 50C Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Đinh Thế Hùng - Thời hạn thuê tối thiểu phải chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao về quyền sở hữu.
- Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn (tương đương) giá trị hợp lý của tài sản. -Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng sử dụng không cần có sự thay đổi, sửa chữa lớn nào. * Hợp đồng thuê tài sản cũng được coi là hợp đồng thuê tài chính nếu hợp đồng thuê thoả mãn ít nhất một trong ba trường hợp sau: - Nếu bên thuê huỷ hợp đồng và đền bù tổn thất phát sinh liên quan đến việc huỷ hợp đồng cho bên cho thuê. - Thu nhập hoặc sự tổn thất do sự thay đổi giá trị hợp lý của tài sản còn lại của bên thuê gắn với bên thuê.
- Bên thuê có khả năng tiếp tục thuê lại tài sản sau khi hết hạn hợp đồng Thuê với tiền thuê thấp hơn giá thị trường. Khấu hao TSCĐ là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian sử dụng của TSCĐ. Đặc điểm của tài sản cố định. TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Khoản mục TSCĐ là một khoản mục chiếm tỷ trọng lớn trên bảng cân đối kế toán. TSCĐ là cơ sở vật chất thiết bị kỹ thuật của doanh nghiệp. Nó phản ánh năng lực sản xuất hiện có và trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật vào hoạt động của doanh nghiệp. TSCĐ là một trong các yếu tố quan trọng tạo khả năng tăng trưởng bền vững, tăng năng xuất lao động, từ đó giảm chi phí hạ giá thành sản phẩm dịch vụ.
SV: Dương Tiến Pháp 8 Lớp: Kiểm toán 50C Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Đinh Thế Hùng TSCĐ là những tài sản được sử dụng phục vụ cho mục đích sản suất kinh doanh chứ không trực tiếp làm ra doanh thu và trong quá trình sử dụng TSCĐ sẽ bị hao mòn dần theo thời gian nên doanh nghiệp cần phải có chính sách trích khấu hao hợp lý. Giá trị của chúng được chuyển dần vào chi phí hoạt động sản xuất trong kỳ qua việc phân bổ chi phí một cách hợp lý của doanh nghiệp. Để sử dụng tốt nhất TSCĐ, ngoài việc sử dụng hợp lý công suất phục vụ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải quản lí giám sát theo dõi riêng chặt chẽ và có chế độ trích khấu hao hợp lý.