Đặt vấn đề Giáo dục mầm non góp phần cùng với sự phát triển của giáo dục Việt Nam đào tạo ra những con người có năng lực, phát triển toàn diện không ngừng cả về phẩm chất trí tuệ, phẩm chất đạo đức mà còn có đầy đủ sức khỏe sẵn sàng phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế xã hội trong tương lai. Mục tiêu giáo dục mầm non trong chiến lược phát triển giáo dục nhấn mạnh đến chất lượng giáo dục toàn diện, trong đó phát triển thể chất được đặt ra trong mối quan hệ tổng thể với các mặt phát triển khác. Ở nước ta, trong những năm gần đây, nhờ sự tăng trưởng của nền kinh tế, sự quan tâm của các tổ chức xã hội nên chất lượng chăm sóc, nuôi dạy trẻ mà chăm sóc dinh dưỡng đã cải thiện đáng kể. Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã kí quyết định phê duyệt “Chương trình sữa học đường cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng góp phần nâng cao tầm vóc trẻ em mẫu giáo và tiểu học đến năm 2020”, qua đó tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em giảm đáng kể.
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở Việt Nam vẫn còn cao, nhất là ở những tỉnh vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Cùng với đó tại các khu đô thị lớn thì một số bệnh do chế độ dinh dưỡng không khoa học lại xuất hiện và có xu hướng ngày càng tăng nhanh như thừa cân, béo phì, cao huyết áp và một số bệnh tim mạch khác. Kết quả điều tra mới nhất (2014 - 2015) về tình trạng trẻ thừa cân béo phì được TS. Bùi Thị Nhung - Trưởng khoa Dinh dưỡng học đường và ngành nghề, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, công bố tại hội thảo phòng chống béo phì, thừa cân cho trẻ em, ngày 18/10/2017.
Theo đó tình trạng béo phì trẻ em từ tuổi tiền học đường và học đường đến tuổi trưởng thành đang gia tăng tại Việt Nam, đặc biệt ở các thành LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 phố lớn. Từ năm 1980 - 2013, tỉ lệ thừa cân, béo phì tăng đến 47% ở trẻ em. Năm 1996, tỉ lệ trẻ em thừa cân, béo phì tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 12%. 13 năm sau (năm 2009) tỉ lệ này là 43%.
Kết quả điều tra năm 2014 - 2015, tỉ lệ béo phì ở Thành phố Hồ Chí Minh trên 50%, còn khu vực nội thành Hà Nội khoảng 41% [6]. Những trẻ bị béo phì thường mất cân bằng trong cuộc sống. Trẻ sẽ lười vận động hơn, luôn có cảm giác nặng nề, khó khăn trong mọi hoạt động của cuộc sống. Từ đó ảnh hưởng đến việc tiếp thu kiến thức dẫn đến kết quả học tập giảm sút.
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng béo phì chính là nguyên nhân quan trọng dẫn đến những bệnh nguy hiểm như: đái tháo đường, sỏi mật, … Đặc biệt, những trẻ bị béo phì còn có nguy cơ rất cao mắc bệnh ung thư khi lớn lên. Tình trạng suy dinh dưỡng, thừa cân, béo phì và một số bệnh về dinh dưỡng có liên quan mật thiết đến chế độ dinh dưỡng cho trẻ em ở các trường mầm non và gia đình. Việc nâng cao sức khỏe, trong đó yếu tố nền tảng là cải thiện dinh dưỡng cho trẻ em là rất cần thiết và cấp bách. Để đóng góp giải pháp khắc phục về thực trạng chế độ dinh dưỡng hợp lí phòng bệnh béo phì cho trẻ em hiện nay, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng hệ hỗ trợ xác định thực đơn khẩu phần dinh dưỡng phòng bệnh béo phì cho trẻ dưới 6 tuổi”.
Các hướng nghiên cứu giải quyết bài toán 1. Sử dụng kĩ thuật Trí tuệ nhân tạo (AI) 1. Các phương pháp tìm kiếm cổ điển Với phương pháp này, chúng ta chọn một khẩu phần ăn bất kì, sau đó tiến hành so sánh khẩu phần ăn này với các khẩu phần ăn khác. Nếu khẩu phần nào đó tốt hơn (tức là đáp ứng được các điều kiện về hàm lượng calo, tỉ lệ cân bằng các chất dinh dưỡng phòng bệnh béo phì, …) đồng thời các điều kiện biên có chi phí nhỏ hơn thì chúng ta sẽ thay thế khẩu phần ăn đã lựa chọn ban đầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 bằng khẩu phần ăn mới và tiếp tục tiến hành quá trình so sánh với các khẩu phần ăn còn lại.
Chu trình này sẽ lặp lại đến khi chúng ta duyệt toàn bộ không gian tìm kiếm (không gian khẩu phần ăn). Ưu điểm: Ý tưởng thực hiện của phương pháp này đơn giản, dễ hiểu. Nếu xác định tốt các tiêu chí so sánh, phương pháp này sẽ cho kết quả tối ưu nhất có trong không gian tìm kiếm. Hạn chế: Việc tìm kiếm trên không gian khẩu phần ăn sẽ gây ra hiện tượng bùng nổ tổ hợp.
Ví dụ: Nếu chúng ta chỉ dùng 3 món trong một khẩu phần ăn thì không gian mẫu sẽ bao gồm n3 mẫu. Ví dụ mỗi loại có 5 món ăn, khi đó không gian mẫu sẽ là 53 125 ; nếu mỗi loại tăng lên một món ăn, không gian mẫu sẽ trở thành 63 216. Rõ ràng khi n lớn thì việc tìm kiếm sẽ rất tốn kém. Mỗi khẩu phần ăn lại thỏa mãn nhiều điều kiện dinh dưỡng khác nhau, về hàm lượng calo, về tỉ lệ cân bằng giữa các chất đảm bảo phòng chống bệnh béo phì.
Do đó, việc xác định khẩu phần thỏa mãn tất cả các điều kiện đó không phải dễ dàng. Việc so sánh càng trở nên phức tạp và nhiều khi không thể thực hiện được nếu các điều kiện này đan xen nhau. Việc có nhiều điều kiện cũng làm tăng chi phí thực hiện so sánh và tăng thời gian tìm kiếm. Giải thuật di truyền (GA) Ý tưởng chính của phương pháp này dựa trên lý thuyết về sự tiến hóa trong tự nhiên của các loài vật, qua nhiều thế hệ sinh vật phát triển dựa trên nguyên lí của sự chọn lọc tự nhiên, loài nào thích nghi sẽ tồn tại.
Như ta thấy trong tự nhiên các loài vật sẽ cạnh tranh nhau về thức ăn, nơi trú ẩn, … các cá thể cùng loài còn cạnh tranh nhau để thu hút bạn tình trong mùa sinh sản. Trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 quá trình sinh sản luôn xuất hiện hai hiện tượng di truyền và biến dị. Hiện tượng di truyền cho phép thế hệ sau tốt giống thế hệ trước. Còn hiện tượng biến dị tạo ra các cá thể có khả năng mới.
Nếu khả năng mới đó là tốt hơn trước thì sẽ được truyền lại cho thế hệ sau. Nếu khả năng mới là xấu hơn thì khả năng truyền lại cho thế hệ sau là ít hơn. Dần dần trong quá trình chọn lọc tự nhiên các đặc tính xấu hơn đó sẽ được loại bỏ và thay thế bằng các đặc tính tốt hơn. Áp dụng giải thuật di truyền vào giải quyết bài toán.
Coi các khẩu phần ăn là các nhiễm sắc thể, các nhiễm sắc thể này sẽ được lai ghép với nhau để tạo ra nhiễm sắc thể mới, trong quá trình lai ghép một số gen bị đột biến cũng tạo thành các nhiễm sắc thể mới. Quá trình chọn lọc tự nhiên sẽ loại bỏ các nhiễm sắc thể không có khả năng thích nghi ra khỏi quần thể chỉ giữ lại những nhiễm sắc thể có khả năng thích nghi tốt. Biểu diễn khẩu phần ăn dưới dạng nhiễm sắc thể Đây là một trong những công việc quan trọng trong thiết kế giải thuật di truyền, quyết định việc áp dụng các toán tử tiến hóa. Một trong những phương pháp biểu diễn truyền thống của GA là biểu diễn nhị phân.
Với phép biểu diễn này giải pháp cho bài toán được biểu diễn như là một vector bit. Mỗi nhiễm sắc thể là một khẩu phần ăn bao gồm nhiều gen, trong đó một gen đại diện cho một tham số thành phần của bài toán. Khởi tạo quần thể Để khởi tạo quần thể, chỉ cần đơn giản tạo pop - size (kích cỡ quần thể) nhiễm sắc thể (khẩu phần ăn) ngẫu nhiên theo từng bit. Trong mỗi thế hệ, ta lượng giá từng nhiễm sắc thể (tính giá trị hàm f trên các chuỗi biến nhị phân đã được giải mã), chọn quần thể mới thỏa mãn phân bố xác suất dựa trên độ thích nghi và thực hiện các phép đột biến và lai ghép để tạo ra các cá thể thế hệ mới.
Sau một số thế hệ, khi không còn cải thiện thêm được gì nữa, nhiễm sắc thể (khẩu phần ăn) tốt nhất sẽ được xem như lời giải của bài toán. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Hàm mục tiêu Sau khi khởi tạo quần thể hoặc ở thời điểm các thế hệ mới được tạo thành, chúng ta phải sử dụng hàm mục tiêu để đánh giá mức độ thích nghi của mỗi nhiễm sắc thể nhằm có cơ sở cho việc lựa chọn bố mẹ cho các phép lai ghép và đột biến. Các phương pháp xác định độ thích nghi: - Xác định theo tỉ lệ thích nghi (Fitness scaling); - Xác định theo phương pháp cửa sổ thích nghi (Fitness windowing); - Xác định theo thứ hạng thích nghi (Fitness ranking). Toán tử lai ghép Là phép toán thực hiện lai ghép hai nhiễm sắc thể (hay hai khẩu phần ăn) với nhau nhằm sinh ra nhiễm sắc thể (hay khẩu phần ăn) con từ các nhiễm sắc thể cha mẹ ban đầu, thừa hưởng các đặc tính tốt từ cha mẹ.
Với một xác suất lai k cho trước, chúng ta tiến hành chọn ngẫu nhiên các cặp nhiễm sắc thể và thực hiện lai ghép. Một số phương pháp lai ghép: - Lai ghép một điểm; - Lai ghép nhiều điểm; - Lai ghép mặt nạ. Toán tử đột biến Tương tự như lai ghép, kết quả của đột biến thường sinh ra các nhiễm sắc thể mới khác biệt so với nhiễm sắc thể cha mẹ. Phép đột biến được điều khiển bởi xác suất đột biến.
Toán tử chọn lọc Phép chọn lọc là quá trình loại bỏ nhiễm sắc thể (khẩu phần ăn) kém thích nghi ra khỏi quần thể. Ở mỗi thế hệ, dựa trên giá trị thích nghi, các cá thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 có độ thích nghi tốt sẽ được chọn lọc để tạo thành quần thể ở thế hệ mới. Quá trình này được mô tả như sau: - Sắp xếp quần thể theo thứ tự mức độ thích nghi giảm dần; - Loại bỏ các nhiễm sắc thể ở cuối dãy. Giữ lại n cá thể tốt nhất.