phần mở đầu, kết luận nội dung luận văn gồm bốn chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tạo động lực vật chất cho người lao động. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác tạo động lực vật chất cho người lao động tại Bưu điện tỉnh Lai Châu. Chƣơng 4: Giải pháp tạo động lực vật chất cho người lao dộng tại Bưu điện tỉnh Lai Châu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC VẬT CHẤT CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực vật chất cho ngƣời lao động 1. Khái niệm về tạo động lực vật chất cho người lao động 1. Động lực Có rất nhiều quan điểm về động lực nhưng dù là quan điểm nào hay cách tiếp cận nào đi chăng nữa thì động lực ngày càng là một yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất.
Vậy nên khi nghiên cứu về nó ta phải gắn nó với tổ chức và với công việc. Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của cá nhân thì mới tạo ra động lực một cách hoàn chỉnh. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về bản chất của động lực: - Theo Maier và Lawler (1973) “động lực là sự khao khát và tự nguyện của mỗi cá nhân”. - Theo Kreiner (1995) “động lực là một quá trình tâm lý định hướng hành vi cá nhân theo mục đích nhất định”.
- Theo Beddeian (1993) “động lực là sự cố gắng để đạt được mục tiêu”.TS Nguyễn Ngọc Quân và Th.S Nguyễn Vân Điềm (2007) “động lực là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.TS Bùi Tuấn Anh và T.S Phạm Thúy Hương (2009) “động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”. Như vậy, qua các cách tiếp cận như trên có thể thấy được một mâu thuẫn biện chứng, đó là nhu cầu – động cơ của người lao động và nhu cầu của tổ chức. Người lao động muốn đạt được các nhu cầu của mình thì cần phải nỗ lực và thông qua sự đóng góp vào tổ chức để đạt được phần thưởng và ngược lại, tổ chức muốn tồn tại thì cần phải có sự nỗ lực đóng góp của các nhân viên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Hiện nay, cũng đã có nhiều mô hình về mối quan hệ giữa động lực lao động và kết quả thực hiện công việc.
Tuy nhiên, về cơ bản vẫn dựa trên mô hình của Maier và Lawler (1973) như sau: Kết quả thực hiện công việc = Khả năng x Động lực Trong đó: Khả năng = Khả năng bẩm sinh x Đào tạo x Các nguồn lực Động lực = Khát khao x Tự nguyện Theo mô hình này, để nâng cao kết quả thực hiện công việc cho người lao động thì doanh nghiệp, tổ chức cần phải tăng cường khả năng (thông qua công tác phân tích, bố trí công việc…) và tăng cường động lực lao động (bằng cách đáp ứng các nhu cầu, khát khao và nâng cao tính tự chủ, tự nguyện của người lao động) từ đó sẽ hình thành động cơ làm việc tốt. Khi bàn về động lực của người lao động, các nhà quản lý thường thống nhất ở một số điểm sau: - Động lực gắn liền với công việc, với tổ chức và môi trường làm việc, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào. - Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân, có nghĩa là có người có động lực và người không có động lực. - Người lao động nếu không có động lực vẫn có thể hoàn thành công việc.
Tuy nhiên, nếu người lao động mất động lực sẽ có xu hướng giảm năng suất lao động và ra khỏi tổ chức. Như vậy ta có thể hiểu là: động lực là sự mong muốn, khát khảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra trong một điều kiện nhất định. Tạo động lực Là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc. Như vậy, tạo động lực lao động là trách nhiệm và mục tiêu của tổ chức.
Tổ chức mong muốn người lao động sẽ cống hiến hết năng lực, trình độ cũng như kinh nghiệm của mình phục vụ cho nhu cầu phát triển của công ty. Ngược lại, người lao động mong muốn từ sự cống hiến đó sẽ thu được những lợi ích về mặt vật chất và tinh thần, giúp họ tìm được niềm vui trong lao động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Ta có thể xét quá trình tạo động lực theo mô hình sau đây: Nhu Nhu cầu cầu Sự Các Hành Giảm không được căng động vi tìm căng được thỏa thẳng cơ kiếm thẳng thỏa mãn mãn Sơ đồ 1. Quá trình tạo động lực cơ bản Nguồn: Giáo trình quản trị nhân lực - Nhu cầu không được thoả mãn: là việc người lao động không được đáp ứng đầy đủ những nhu cầu về mặt vật chất hay tinh thần.
- Sự căng thẳng: Là trạng thái tâm lý diễn ra bên trong của từng cá nhân, xuất phát từ việc những nhu cầu không được đáp ứng. - Các động cơ: Sự căng thẳng thường kích thích các động cơ bên trong cá nhân. - Hành vi tìm kiếm: Hành vi này xuất hiện khi các động cơ tạo ra một cuộc tìm kiếm nhằm thoả mãn mục tiêu cụ thể nào đó mà cá nhân tự đặt ra cho mình. - Nhu cầu được thoả mãn: Tức là nhu cầu không được thoả mãn trong giai đoạn trước, bây giờ đã được đáp ứng đúng theo mong muốn của cá nhân.
- Giảm căng thẳng: Từ việc nhu cầu được thoả mãn trạng thái tâm lý của người lao động cũng giảm bớt được những căng thẳng đã xuất hiện trước đó. Như vậy: tạo động lực là cách thức, biện pháp, phương hướng, chính sách để người lao động có động lực thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Khái niệm tạo động lực vật chất Có nhiều cách để tạo động lực cho người lao động trong đó các nhà quản trị sử dụng biện pháp vật chất nhằm kích thích người lao động. Để hiểu được một cách khái quát vấn đề này thì Có rất nhiều khái niệm đưa ra nhưng nhìn chung đây là khái niệm đầy đủ và chính xác.
“Tạo động lực vật chất là quá trình sử dụng vật chất để kích thích người lao động nhằm tăng năng suất lao động, tạo ra những tài sản mới và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp” LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vai trò của công tác tạo động lực vật chất cho người lao động 1. Đối với cá nhân người lao động Bất cứ một người lao động nào khi có được động lực trong công việc họ sẽ làm việc hết mình với một tinh thần hăng say nhiệt tình, nỗ lực hơn khả năng vốn có của họ. Họ dường như không biết đến mệt mỏi và tất nhiên hiệu quả năng suất lao động vì thế cũng cao hơn, kích thích khả năng sáng tạo của họ vốn đã tiềm tàng từ lâu.
Người lao động thấy mình sống có ý chí hơn, yêu đời hơn và đây là cơ sở tạo nên bầu không khí chan hoà thân thiện với đồng nghiệp và với lãnh đạo. Điều này làm họ ngày càng gắn bó với tổ chức và là sức mạnh để giữ chân họ ở lại tổ chức. Đối với tổ chức Mỗi cá nhân là thành viên trong tổ chức vì vậy khi tổ chức đã tạo được động lực cho các cá nhân thì đồng nghĩa với việc: - Đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì khi làm việc với tất cả niềm say mê, sự hứng thú cộng thêm sự sáng tạo thì mọi người trong tổ chức sẽ đạt được hiệu quả sản xuất chung của doanh nghiệp sẽ cao hơn.
- Tạo được một nền văn hoá lành mạnh. Thông qua việc xây dựng và thiết lập mối quan hệ thân thiết hơn giữa người lao động với nhau và người lao động với người quản lý sẽ đưa tổ chức thành một khối thống nhất vững chắc, lớn mạnh. Khi đó việc đề ra các chính sách, nội qui, nhiệm vụ dễ dàng được thực hiện hơn vì được người lao động đồng tình ủng hộ. - Giúp doanh nghiệp duy trì ổn định và phát triển vững mạnh.
Tạo động lực cho người lao động sẽ phát huy được tiềm năng trong mỗi cá nhân. Đây là nền tảng của tiềm lực doanh nghiệp để tạo ra một tương lai tốt đẹp cho cả bản thân người lao động và cho tổ chức. Đối với xã hội Xã hội sẽ như thế nào nếu mỗi con người lao động đều không có động lực? Tất nhiên là nếu không có nó thì quá trình sản xuất vẫn cứ diễn ra, con người vẫn cứ lao động và xã hội vẫn cứ phát triển. Nhưng nếu người lao động làm việc chỉ như là một "cái máy" không hơn thì thực sự cuộc sống sẽ rất buồn tẻ nhàm chán, khó có sự sáng tạo và cuối cùng xã hội sẽ khó có thể phát triển nhanh và mạnh hơn với chất lượng cuộc sống tốt hơn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Qua sự trình bày ở trên ta thấy vai trò cần thiết của tạo động lực. Nó giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình đồng thời thoả mãn được các nhu cầu cá nhân người lao động, là cơ sở tạo nên sự phát triển của xã hội. Các lý thuyết về tạo động lực vật chất cho người lao động 1. Học thuyết nhu cầu Maslow Nhà tâm lý học người Hoa Kỳ - Abraham Maslow cho rằng: người lao động có năm nhu cầu theo bậc thang từ thấp đến cao là: nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được ghi nhận và nhu cầu tự hoàn thiện.
Theo đó, những nhu cầu ở mức độ thấp sẽ phải được thỏa mãn trước khi xuất hiện các nhu cầu ở mức độ cao hơn. Những nhu cầu này thúc đẩy con người thực hiện những công việc nhất định để được đáp ứng. Như vậy, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu cá nhân sẽ thay đổi được hành vi của con người. Dưới đây là các biểu hiện tương ứng với các cấp độ nhu cầu của người lao động: - Nhu cầu vật chất (tồn tại) Nhu cầu sinh lý (vật chất) là những nhu cầu cơ bản để có thể duy trì bản thân cuộc sống con người như: thức ăn, đồ mặc, nước uống, nhà ở .