Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên Thế giới Nghiên cứu về động vật đã được các nhà khoa học quan tâm từ lâu. Một trong những nội dung quan trọng là nghiên cứu khu hệ. Khu hệ động vật (fauna) là tập hợp các loài động vật có tính chất lịch sử trong một khu vực hay một lãnh thổ xác định.
Nghiên cứu khu hệ động vật bao gồm các nội dung chính: Các yếu tố hình thành khu hệ (điều kiện tự nhiên, lịch sử địa chất); đặc điểm thành phần loài, phân bố tự nhiên, nguồn gốc loài; mối quan hệ giữa các cá thể trong một quần thể, giữa các quần thể động vật với nhau và giữa các quần thể động vật với các quần thể thực vật; hiện trạng quần thể các loài động vật. Đây là cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn, khai thác và sử dụng tài nguyên theo hướng bền vững. Cho đến nay, trên Thế giới hiện đã ghi nhận được 6.433 loài ếch nhái thuộc 59 họ, 3 bộ, trong đó: bộ Không đuôi (Anura) có 5.679 loài, 47 họ; bộ có đuôi (Caudata) 580 loài, 9 họ; bộ Không chân (Gymnophiona hay Apoda) có 174 loài, 3 họ (Frost, 2009). Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng: Rừng nhiệt đới là nơi đa dạng nhất về thành phần loài ếch nhái.
Ví dụ, Thái Lan là một trong các quốc gia nằm trong vùng nhiệt đới và được đánh giá có khu hệ ếch nhái khá phong phú. Theo thống kê, tổng số có 130 loài ếch nhái, thuộc 8 họ và 3 bộ được ghi nhận ở nước này [52]. Tương tự, Trung Quốc cũng là một quốc gia có tính đa dạng cao về các loài ếch nhái. Theo thống kê của Zhao và Adler (1993), tổng số 274 loài ếch nhái, thuộc 11 họ và 3 bộ đã được ghi nhận tại Trung Quốc.
Trong đó, bộ Không đuôi có 250 loài (chiếm 91,24%) thuộc 7 họ, bộ Có đuôi 23 loài thuộc 3 họ và bộ Không chân chỉ có 1 loài [58]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Một ví dụ nữa chứng minh cho nhận định về tính đa dạng của các loài ếch nhái tại khu vực nhiệt đới đó là Ấn Độ. Berkeley (2009) đã thống kê được 213 loài ếch nhái thuộc 10 họ, 3 bộ. Trong số 213 loài thì có 27 loài thuộc họ Megophryidae, 35 loài thuộc họ Bufonidae, 33 loài thuộc họ Microhylidae, 55 loài thuộc họ Ranidae, 43 loài thuộc họ Rhacophoridae và 7 loài thuộc họ Ichthyophiidae [40].
Thông tin về tính đa dạng tài nguyên ếch nhái của một số nước trong khu vực Đông Nam Á được thể hiện trong bảng 1. Thành phần loài ếch nhái một số nước Đông Nam Á Gymnophiona Caudata Anura Tổng số Tên nước Số họ Số loài Số họ Số loài Số họ Số loài Số họ Số loài Lào 1 1 1 1 5 58 7 60 Myanmar 0 0 1 1 5 81 6 82 Philippin 1 3 0 0 6 93 7 96 Thái Lan 1 4 1 1 7 107 9 112 Việt Nam* 1 1 1 5 9 163 11 174 Malaysia 1 7 0 0 5 193 6 200 Indonesia 1 10 0 0 8 246 9 256 (Nguồn: Bùi Thị Hải Hà, 2003; * Nguyen Van Sang et al., 2009) Cho đến nay, có rất nhiều phương pháp nghiên cứu về thành phần loài của ếch nhái đã và đang được áp dụng như điều tra theo tuyến, ô tiêu chuẩn, bẫy hố và điều tra theo tiếng kêu [54]. Tùy vào điều kiện cụ thể, mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm riêng. (2003), khi nghiên cứu về thành phần loài ếch nhái, bò sát ở rừng mưa nhiệt đới đã sử dụng hai phương pháp: Điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn.
Dựa trên kết quả phân tích, tác giả đã đưa ra nhận định: Số lượng cá thể ếch nhái, bò sát thu được khi sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến nhiều hơn khi sử dụng phương pháp điều tra theo ô tiêu chuẩn (ô có dạng hình vuông). Ngoài ra, nhiều loài quan trọng cũng đã được ghi nhận bằng phương pháp điều tra theo tuyến. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Tuy nhiên, khi điều tra một loài ở sinh cảnh cụ thể, việc điều tra theo phương pháp lấy mẫu theo ô tiêu chuẩn là tốt hơn. Trong các cuộc điều tra dài hạn, thì hai phương pháp đó là có hiệu quả tương đương, xét về số lượng loài và cá thể thu được.
Nhóm ếch nhái hoạt động chủ yếu vào ban đêm và sống ở quanh các khe suối, vì vậy với thời gian điều tra ngắn thì phương pháp điều tra theo tuyến là thích hợp và hiệu quả nhất [42]. Mục đích cơ bản của nghiên cứu sinh thái học là để giải thích về phân bố và sự phong phú của các loài theo môi trường sống, đó cũng là những cơ sở dữ liệu quan trọng nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn. Về sinh thái học ếch nhái, Gregorio & Pizarro (2008) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh cảnh, khí hậu, sự tác động của con người và cấu trúc cảnh quan đến sự phong phú của các loài ếch nhái ở Tây Ban Nha cho thấy rằng: sự thay đổi về khí hậu ảnh hưởng mạnh đến tính đa dạng loài hơn so với sự không đồng nhất về sinh cảnh; mức độ phong phú của các loài ếch nhái gia tăng theo độ cao của các dãy núi; sự xuất hiện của con người có mối quan hệ chặt chẽ với sự phong phú của các loài chim và thú, nhưng ít ảnh hưởng đến tính đa dạng loài của các loài động vật biến nhiệt. Mặt khác, nghiên cứu chỉ ra rằng các loài ếch nhái là phong phú hơn ở những vùng đất có mặt của con người mà ít bị tác động tiêu cực (như các trang trại) [44].
Trong số các lớp động vật trên Thế giới hiện nay, ếch nhái là lớp động vật nguy cấp nhất. Theo thống kê gần 1/3 số loài trong tổng số 6.433 loài trên Thế giới đứng bên bờ vực của sự tuyệt chủng và 200 loài đã không được ghi nhận trong những năm gần đây. Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này có liên quan đến sự gia tăng dân số và hoạt động sống của con người. Cụ thể, có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 6 nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng của các loài ếch nhái: Phá hủy sinh cảnh, lây nhiễm bệnh tật, ô nhiễm thuốc trừ sâu, biến đổi khí hậu, loài ngoại lai xâm hại và săn bắt quá mức [39].
Bảo tồn các loài ếch nhái với mục tiêu là bảo vệ quần thể ếch nhái, sinh cảnh sống của chúng và tạo ra một môi trường bình đẳng, tôn trọng và bảo vệ tự nhiên nói chung và động vật hoang dã nói riêng. Để làm được điều này, các nhà khoa học đã đề xuất phối hợp bảo tồn bằng 5 giải pháp sau: (1) Giáo dục môi trường, (2) Tăng cường thực thi chính sách, pháp luật, (3) Kiểm soát hoạt động tàn phá sinh cảnh, (4) Những hoạt động cho bảo vệ môi trường sống, (5) Quản lý và đầu tư cho nghiên cứu khoa học [39]. Ở Việt Nam Tổng hợp đầu tiên về khu hệ bò sát, ếch nhái miền Nam Việt Nam được thực hiện bởi Morice (1875). Tác giả đã thống kê được 114 loài bò sát và 13 loài ếch nhái.
Tirant (1885), trong một công trình nghiên cứu về bò sát, ếch nhái Việt Nam và Campuchia, đã xác định được 166 loài bò sát, ếch nhái. Trong đó, có 17 loài ếch nhái, trong đó 16 loài thuộc bộ Không đuôi (Anura) và 1 loài thuộc bộ Không chân (Gymnophiona). So với Morice (1875), số loài tác giả phát hiện được nhiều hơn do mở rộng khu vực nghiên cứu [56]. Trong số các nhà nghiên cứu người Pháp (thời kỳ Pháp thuộc), những người đặc biệt quan tâm nghiên cứu đến bò sát, ếch nhái ở Việt Nam có thể kể đến là: Vaillant (1834-1914), Mocquard (1834-1917), Pellegrin (1873-1944), Chabanaud (1876-1959), Angel (1881-1950) và Bourret (1884-1957).
Bourret LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 là nhà khoa học dẫn đầu trong lĩnh vực nghiên cứu ếch nhái, bò sát ở Đông Dương. Ông đã viết một số lượng lớn các bài báo và sách về bò sát, ếch nhái ở Việt Nam: Năm 1937, Bourret đã công bố loài Ophryophryne poilani thu được ở Quảng Trị, Quảng Bình. Năm 1939, ông công bố 12 loài ếch nhái, bò sát trong đó có các loài: Ophryophryne microstoma, Huia nasia, Rana kuhlii, Rhacophorus leucomystax và Philautus banaensis. Năm 1942, trong chuyên khảo về ếch nhái Đông Dương Bourret đã ghi nhận thêm 4 loài ếch nhái: Rana kokchangae, Rana verrucospinosa, Megophrys longipes, Philautus petersi.
Các kết quả nghiên cứu của ông trong giai đoạn này được viết thành cuốn “Les batraciens de L’Indochine (Ếch nhái ở Đông Dương) xuất bản năm 1942 (Bourret,1942), trong công trình này, ông đã tổng kết ở Đông Dương có 171 loài ếch thuộc 9 họ và 3 bộ, trong đó có 2 loài thuộc bộ Không chân (Gymnophiona), 4 loài thuộc bộ Có đuôi (Caudata), 165 loài thuộc bộ Không đuôi (Anura). Trong số 171 loài, có 59 loài thuộc 9 họ, 3 bộ phân bố ở Việt Nam (Bourret, 1936, 1941a, 1941b, 1942a, 1942b, 1943). Bourret cũng đã ước lượng có 82 loài ếch nhái xuất hiện ở Việt Nam [41],[46]. Trong giai đoạn từ năm 1945 – 1954 không có ghi nhận mới cho khu hệ ếch nhái ở Việt Nam do bị ảnh hưởng của chiến tranh.
Sau khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng (năm 1954) và từ năm 1956 nghiên cứu ếch nhái lại được tiếp tục và ngày càng được đẩy mạnh. Trong thời gian này, các công trình nghiên cứu về ếch nhái chủ yếu do các nhà khoa học Việt Nam đảm nhiệm. Kết quả điều tra ếch nhái ở miền Bắc của Trần Kiên và cộng sự từ năm 1956 đến 1976 đã ghi nhận 68 loài ếch nhái [14]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Nghiên cứu về ếch nhái được đẩy mạnh đặc biệt từ những năm 1990 trở lại đây.
Việc thành lập các VQG, Khu BTTN đã đòi hỏi phải tiến hành khảo sát và đánh giá tổng thể về hiện trạng nguồn tài nguyên sinh vật nhằm tạo lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng phương án quản lý. Vì vậy, danh lục các loài động vật trong đó có thành phần loài ếch nhái đã được công bố, bổ sung qua nhiều đợt khảo sát của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước qua các dự án nghiên cứu ở các khu như: Hoàng Liên (Ohler et al., 2000) [53], Cát Tiên (Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc, 2002) [32], U Minh Thượng (Nguyễn Văn Sáng và cộng sự, 2002) [31], Bà Nà (Lê Vũ Khôi và cộng sự, 2002) [13], Tây Côn Lĩnh (Bain & Nguyen, 2004) [38], Cúc Phương (Nguyễn Văn Sáng, 2003) [30], Ngọc Sơn - Ngổ Luông (Lê Trọng Đạt và cộng sự, 2008) [49], Phong Nha - Kẻ Bàng (Hendrix et al.