Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sở hữu tổng diện tích tự nhiên 10.880,33 ha, đóng vai trò là lá phổi xanh và bức tường phòng hộ sinh thái quan trọng cho vùng duyên hải Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, trước sức ép gia tăng dân số với 145.246 người tại huyện Xuyên Mộc và tình trạng chuyển đổi đất canh tác nông nghiệp trái phép lên tới 1.668,77 ha, tài nguyên rừng tại đây đã bị suy giảm nghiêm trọng cả về diện tích lẫn trữ lượng. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách phải khôi phục 2.842,26 ha đất trống và nâng cao chất lượng 1.292,54 ha rừng trồng hiện hữu theo định hướng phát triển lâm nghiệp bền vững của Thủ tướng Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Nghiên cứu được thiết lập nhằm đánh giá toàn diện các chỉ tiêu sinh trưởng, cấu trúc lâm phần và diễn thế tầng cây tái sinh dưới tán của 7 mô hình rừng trồng cây gỗ lớn có tuổi từ 12 đến 33 năm tại phân khu phục hồi sinh thái. Phạm vi khảo sát tập trung vào các loài cây bản địa quý hiếm như Sao đen, Giáng hương, Dầu con rái, Muồng đen và Gõ đỏ, được triển khai qua hai phương thức chính là trồng mới trên đất trống và trồng bổ sung làm giàu rừng nghèo kiệt.

Kết quả đánh giá định lượng cho thấy tỷ lệ sống trung bình của các mô hình đạt từ 84,4% đến 87,0%, trữ lượng gỗ của mô hình Sao đen thuần loài 33 năm tuổi đạt 137 m3/ha với mật độ 418 cây/ha. Việc xác lập cơ sở khoa học từ các chỉ số sinh trưởng và cấu trúc phân bố không gian mang lại giá trị thực tiễn to lớn, hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch, điều chế rừng và nhân rộng mô hình phục hồi sinh thái bền vững tại các vùng đất cát ven biển khô hạn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý thuyết lâm học cổ điển và hiện đại để giải thích quy luật tương tác nội tại của lâm phần. Đầu tiên, lý thuyết phân cấp cây rừng của Kraft (1884) được sử dụng để phân loại các tầng tán và đánh giá mức độ cạnh tranh không gian dinh dưỡng giữa các cá thể trong quần thụ đồng tuổi. Tiếp đó, lý thuyết cấu trúc lâm phần của Rollet, Richards và Meyer (1934) được áp dụng nhằm mô tả mối quan hệ toán học giữa số cây và cỡ đường kính thân cây.

Để lượng hóa cấu trúc quần xã, mô hình hàm phân bố xác suất Weibull (Bailey và Dell, 1973) được triển khai để mô phỏng phân bố số cây theo cấp đường kính ngang ngực (N-D) và cấp chiều cao vút ngọn (N-H). Ngoài ra, lý thuyết diễn thế sinh thái phục hồi sau nương rẫy của Richards (1939) và Baur (1964) đóng vai trò nền tảng để phân tích động thái tầng cây tái sinh. Bốn khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  1. Cây tái sinh triển vọng (cây có chiều cao vút ngọn trên 100 cm, sinh trưởng tốt hoặc trung bình);
  2. Chỉ số giá trị quan trọng (IVI);
  3. Hệ số phân tán không gian (C) và chỉ số độ tụ hợp (I);
  4. Các chỉ số đa dạng sinh học Margalef, Pielou, Shannon-Wiener và Gini-Simpson.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra lâm học kết hợp xử lý thống kê sinh học trên hệ thống 23 ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình tạm thời, mỗi ô có diện tích 1.000 m2 (kích thước 25 m x 40 m). Trong đó, mô hình Sao đen thuần loài bố trí 6 OTC do diện tích lớn (21,6 ha), 6 mô hình còn lại bố trí 3 OTC/mô hình. Phương pháp chọn mẫu điển hình được lựa chọn nhằm đảm bảo tính đại diện cho các điều kiện lập địa, mật độ và phương thức gây trồng khác nhau.

Để khảo sát tầng cây tái sinh, trong mỗi OTC thiết lập 3 dải đo song song rộng 5 m, trên mỗi dải bố trí 3 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m2 (5 m x 5 m), tạo thành hệ thống 9 ODB/OTC (tổng cộng 207 ODB trên toàn khu vực nghiên cứu). Cây tái sinh được đo đếm chiều cao, đường kính cổ rễ và phân thành 5 cấp chiều cao: dưới 30 cm, 31-50 cm, 51-100 cm, 101-150 cm và trên 150 cm.

Nguồn dữ liệu kế thừa bao gồm số liệu kiểm kê rừng theo Quyết định số 3059/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và hồ sơ kỹ thuật lưu trữ tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu. Dữ liệu thực địa thu thập liên tục từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2018 được xử lý bằng các công cụ chuyên dụng: Microsoft Excel, SPSS phiên bản 19, Statgraphics Centurion XIV, Primer 6 và SigmaPlot 10 để kiểm định sự tương thích phân bố lý thuyết bằng tiêu chuẩn Khi bình phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm trên 7 mô hình rừng trồng cây gỗ lớn tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu đã mang lại 4 phát hiện khoa học mang tính đột phá:

Thứ nhất, phương thức trồng bổ sung nâng cao chất lượng rừng nghèo kiệt thể hiện ưu thế vượt trội về tỷ lệ sống của cây trồng chính. Tỷ lệ cây sống trung bình của các mô hình trồng bổ sung (MH5, MH6, MH7) đạt 87,0%, cao hơn 3,1% so với các mô hình trồng mới trên đất trống (đạt 84,4%). Mật độ lâm phần hiện tại sau hơn 10 năm dao động từ 257 cây/ha ở mô hình hỗn giao Giáng hương + Sao đen đến 440 cây/ha ở mô hình Sao đen + Muồng đen.

Thứ hai, sinh trưởng và tích lũy trữ lượng gỗ có sự phân hóa rõ rệt theo loài và tuổi lâm phần. Tại mô hình 1 (Sao đen thuần loài 33 tuổi), đường kính bình quân đạt kích thước vượt trội, chiều cao vút ngọn đạt 11,59 m và trữ lượng gỗ tích lũy đạt 137 m3/ha. Tăng trưởng đường kính bình quân hàng năm đạt mức cao nhất ở mô hình Gõ đỏ (MH7) với 0,97 cm/năm, trong khi ở mô hình Sao đen 33 tuổi có xu hướng chậm lại còn 0,42 cm/năm theo quy luật sinh lý cây rừng già hóa.

Thứ ba, quy luật cấu trúc lâm phần tuân thủ chặt chẽ các hàm toán học kinh điển. Kiểm định Khi bình phương xác nhận đường cong phân bố số cây theo cấp đường kính (N-D) của tất cả 7 mô hình đều tương thích với hàm phân bố Weibull dạng một đỉnh lệch trái (hệ số độ xiên Sk dương). Cấu trúc phân bố số cây theo chiều cao (N-H) đa số phù hợp với phân bố Weibull một đỉnh lệch phải, phản ánh trạng thái lâm phần đang trong giai đoạn phát triển ổn định.

Thứ tư, tầng cây tái sinh dưới tán rừng phát triển mạnh mẽ về mật độ nhưng tỷ lệ cây triển vọng còn hạn chế. Mật độ tái sinh dao động từ 978 cây/ha tại mô hình Sao đen thuần loài đến 1.526 cây/ha tại mô hình trồng bổ sung Giáng hương + Sao đen. Tái sinh có nguồn gốc từ hạt chiếm tỷ lệ áp đảo từ 91,6% đến 94,5%. Tuy nhiên, tỷ lệ cây tái sinh triển vọng (chiều cao trên 1 m, phẩm chất tốt) chỉ đạt từ 11,2% đến 12,5% ở các mô hình trồng bổ sung, cao nhất đạt 240 cây/ha tại mô hình 1.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội về tỷ lệ sống và mật độ tái sinh tự nhiên ở các mô hình trồng bổ sung bắt nguồn từ yếu tố tiểu khí hậu rừng. Tán che của tầng cây gỗ tự nhiên còn sót lại đã giúp giảm bức xạ mặt trời trực tiếp, giữ ẩm tầng đất mặt và hạn chế bốc hơi nước – yếu tố sống còn trong mùa khô kéo dài 6 tháng tại vùng đất cát ven biển Xuyên Mộc (nơi lượng bốc hơi chiếm tới 60% tổng lượng bốc hơi cả năm).

Dữ liệu cấu trúc không gian khi biểu diễn qua biểu đồ tần số tích lũy cho thấy sự ăn khớp hoàn hảo giữa phân bố thực nghiệm và phân bố lý thuyết Weibull. Đồng thời, biểu đồ phân tích thành phần chính (PCA) và đường cong tích lũy loài chứng minh tính đa dạng thực vật có sự khác biệt rõ: mô hình trồng bổ sung Gõ đỏ (MH7) xuất hiện tới 21 loài tái sinh với chỉ số Gini-Simpson đạt cao nhất, trong khi mô hình Sao đen thuần loài (MH1) chỉ có 16 loài tái sinh và Sao đen chiếm ưu thế tuyệt đối tới 45%.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các công trình nghiên cứu lâm sinh trước đây tại vùng đồi cát duyên hải miền Trung, khẳng định rằng mô hình trồng hỗn loài bản địa tạo điều kiện vi khí hậu thuận lợi hơn cho quá trình phục hồi đa dạng sinh học so với rừng trồng thuần loài. Chỉ số phân tán C lớn hơn 0 và chỉ số tụ hợp I lớn hơn 0 chỉ ra rằng cây tái sinh phân bố theo dạng cụm quanh gốc cây mẹ gieo giống, riêng mô hình 33 tuổi đang có xu hướng tiệm cận phân bố đều.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả định lượng, bốn giải pháp lâm sinh trọng tâm được đề xuất nhằm nâng cao chất lượng rừng trồng gỗ lớn:

Thứ nhất, thực hiện biện pháp tỉa thưa nuôi dưỡng và điều chỉnh mật độ lâm phần. Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu cần tiến hành bài cây, tỉa thưa cơ giới kết hợp vệ sinh rừng tại các mô hình trồng dày như MH1 và MH4 (hiện có mật độ 418 - 440 cây/ha), nhằm hạ mật độ xuống mức tối ưu 300 - 350 cây/ha. Hoạt động này cần triển khai trong giai đoạn 2019 - 2023 để mở rộng không gian dinh dưỡng, thúc đẩy tăng trưởng đường kính đạt trên 1,0 cm/năm.

Thứ hai, xúc tiến khoanh nuôi tái sinh kết hợp hỗ trợ kỹ thuật nuôi dưỡng tầng cây con. Cần thực hiện phát dọn dây leo, cây bụi lấn át và xới xáo đất cục bộ quanh cây mẹ vào đầu mùa mưa (tháng 5 hàng năm) để nâng tỷ lệ cây tái sinh triển vọng từ mức 11,2% hiện tại lên trên 25% (tương đương đạt trên 350 cây triển vọng/ha) vào năm 2024.

Thứ ba, mở rộng diện tích trồng bổ sung làm giàu rừng bằng tập đoàn cây bản địa hỗn loài. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên ưu tiên nhân rộng các công thức hỗn giao có hiệu quả cao như Sao đen + Giáng hương, Dầu con rái + Sao đen với mật độ 300 - 350 cây/ha, kích thước hố đào 50 x 50 x 50 cm. Mục tiêu giai đoạn 2020 - 2025 là trồng mới và làm giàu thêm 500 ha rừng gỗ lớn trên diện tích đất nghèo kiệt.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế quản lý bảo vệ rừng và giải quyết dứt điểm tình trạng xâm lấn đất đai. Ủy ban nhân dân huyện Xuyên Mộc phối hợp với các cơ quan tư pháp xử lý dứt điểm 1.668,77 ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, đồng thời xây dựng quy chế phối hợp tuần tra nghiêm ngặt với 12.670 hộ dân vùng đệm, thay thế mô hình canh tác sắn du canh dưới tán rừng bằng các mô hình nông lâm kết hợp bền vững trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ: Cung cấp số liệu định lượng chuẩn xác về mật độ, trữ lượng và quy luật sinh trưởng để xây dựng đề án quản lý rừng bền vững và phương án làm giàu rừng ven biển.
  2. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Lâm sinh, Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực về lập ô tiêu chuẩn, giải thuật mô phỏng phân bố Weibull và phương pháp đánh giá tái sinh tự nhiên theo chỉ số IVI và đa dạng Simpson.
  3. Các doanh nghiệp và chủ rừng kinh doanh lâm nghiệp: Cung cấp thông số kỹ thuật thực chứng về tốc độ tăng trưởng đường kính (0,42 - 0,97 cm/năm), mật độ trồng tối ưu và phương thức hỗn giao giữa cây họ Dầu và họ Đậu để tối đa hóa hiệu quả kinh tế gỗ lớn.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng tài liệu như một nghiên cứu điển hình (case-study) thực chứng về phục hồi rừng bản địa nhiệt đới trên lập địa khô hạn, phục vụ công tác giám sát đa dạng sinh học và thích ứng biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao phương thức trồng bổ sung lại đạt tỷ lệ cây sống cao hơn trồng mới trên đất trống?

Phương thức trồng bổ sung đạt tỷ lệ cây sống trung bình 87,0%, cao hơn 3,1% so với trồng mới (84,4%). Nguyên nhân do tán rừng tự nhiên nghèo kiệt đóng vai trò che chắn bức xạ gay gắt, hạn chế tình trạng đất cát bị nung nóng và chai cứng trong mùa khô, giúp cây con giữ được độ ẩm mô tế bào và phát triển hệ rễ ổn định.

Mô hình toán học nào phản ánh chính xác nhất cấu trúc mật độ theo đường kính của rừng trồng gỗ lớn?

Hàm phân bố xác suất Weibull thể hiện sự tương thích cao nhất với cấu trúc đường kính (N-D) của toàn bộ 7 mô hình nghiên cứu. Đường cong lý thuyết có dạng một đỉnh lệch trái với hệ số độ xiên Sk dương, đã được kiểm định bằng tiêu chuẩn Khi bình phương đạt mức ý nghĩa thống kê trên 95%.

Mật độ và chất lượng lớp cây tái sinh triển vọng dưới tán các mô hình hiện nay ra sao?

Mật độ cây tái sinh triển vọng đạt cao nhất tại mô hình Sao đen thuần loài với 240 cây/ha. Tuy nhiên, tại các mô hình hỗn giao trồng bổ sung (MH5, MH6, MH7), tỷ lệ cây tái sinh triển vọng (chiều cao vút ngọn trên 1 m, phẩm chất tốt) chỉ dao động từ 11,2% đến 12,5%, đòi hỏi phải có biện pháp lâm sinh can thiệp.

Cây tái sinh dưới tán rừng tại Bình Châu – Phước Bửu có nguồn gốc và phân bố không gian như thế nào?

Cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt chiếm ưu thế tuyệt đối từ 91,6% đến 94,5% tổng số cá thể. Về mặt không gian, cây tái sinh phân bố theo dạng cụm do hệ số phân tán C lớn hơn 0 và chỉ số tụ hợp I lớn hơn 0, tập trung chủ yếu dưới tán tán cây mẹ phát tán hạt.

Công thức hỗn giao loài cây gỗ lớn nào mang lại hiệu quả sinh thái và phục hồi tốt nhất?

Mô hình hỗn giao giữa cây họ Dầu và họ Đậu (như Dầu con rái + Sao đen hoặc Giáng hương + Sao đen) mang lại hiệu quả vượt trội. Công thức này giúp cải tạo đất nhờ khả năng cố định đạm của cây họ Đậu, đồng thời nâng cao tính đa dạng thực vật với 15 - 21 loài tái sinh xuất hiện dưới tán.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa chính xác sinh trưởng của 7 mô hình rừng trồng gỗ lớn tại Bình Châu – Phước Bửu với trữ lượng đạt tới 137 m3/ha và tỷ lệ sống từ 84,4% đến 87,0%.
  • Xác lập quy luật cấu trúc lâm phần tuân theo hàm phân bố Weibull một đỉnh cho cả quan hệ N-D và N-H trên nền lập địa đất cát ven biển.
  • Đánh giá thực trạng tái sinh tự nhiên với mật độ đạt 978 - 1.526 cây/ha, nguồn gốc từ hạt chiếm trên 91,6% và chỉ ra tỷ lệ cây triển vọng còn thấp (11,2% - 12,5%).
  • Chứng minh tính ưu việt của phương thức trồng bổ sung hỗn giao cây họ Dầu và họ Đậu trong việc phục hồi tính đa dạng thực vật (đạt tới 21 loài tái sinh).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh đồng bộ gồm tỉa thưa điều chỉnh mật độ, nuôi dưỡng cây tái sinh và xử lý 1.668,77 ha đất xâm lấn.

Đóng góp khoa học cốt lõi của luận văn là cung cấp bộ dữ liệu thực chứng và cơ sở định lượng vững chắc về động thái rừng trồng gỗ lớn bản địa sau 10 đến 33 năm, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu lâm sinh trên vùng đất cát khô hạn ven biển Đông Nam Bộ. Các cơ quan quản lý và nhà khoa học cần tiếp tục theo dõi diễn thế lâm phần trong giai đoạn 2020 - 2025 nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật phục hồi rừng đặc dụng toàn quốc. Hãy áp dụng ngay các giải pháp kỹ thuật từ công trình này để tối ưu hóa hiệu quả các chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững tại địa phương.