Chương 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1. Cơ sở lý luận về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1.Khái niệm về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là khái niệm tổng hợp được xây dựng trên cơ sở kết nối và tổ hợp hệ thống nhiều yếu tố cả bên trong và bên ngoài ở các cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp DN với tư cách là những thực thể độc lập. Theo định nghĩa của Đại từ điển tiếng Việt thì “Năng lực” là: (1) Những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì; (2) Khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc (Nguyễn Như Ý, 1999).
Do vậy có thể khẳng định, NLCT là khả năng giành thắng lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh (cá nhân hay tổ chức, DN hay quốc gia) trong việc thực hiện cùng mục tiêu nào đó, mục tiêu ấy được khái quát nhất là, hiệu quả cao và phát triển bền vững. Kế thừa những quan niệm đã trình bày, tác giả đưa ra khái niệm về NLCT như sau: Năng lực cạnh tranh là khả năng tạo lập được những thuận lợi hay lợi thế của chủ thể cạnh tranh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục nhằm đạt được mục tiêu với hiệu quả cao và bền vững. Vấn đề liên quan đến cạnh tranh đã thu hút sự quan tâm lớn của các nhà hoạch định chính sách, các doanh nhân và các nhà nghiên cứu. Dẫu đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về NLCT trên các cấp độ: quốc gia, DN và sản phẩm, song chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn được thừa nhận về vấn đề này, do đó chưa có lý thuyết “chuẩn” về NLCT (Lê Đăng Doanh, Nguyễn Kim Dung, Trần Hữu Hân, 1998).
Thậm chí NLCT cùng cấp độ cũng có những phương pháp đánh giá khác nhau, chẳng hạn, đánh giá NLCT cấp độ quốc gia thì trên thế giới cũng đã có hai hệ thống lý thuyết với hai phương LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 pháp đánh giá NLCT quốc gia được các nước và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng phổ biến là: 1- Phương pháp do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu; 2- Phương pháp do Viện Quốc tế về Quản lý và Phát triển (IMD) đề xuất trong Niên giám Cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp trên đều do một số Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Sachs và chuyên gia của WEF như Peter Cornelius, Macha Levinson tham gia xây dựng (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, 2003). Khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh Từ các quan niệm trên về NLCT tác giả có quan niệm về Nâng cao NLCT cấp tỉnh như sau: Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là chính là thực hiện tốt hơn nữa các chỉ tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của địa phương và khắc phục những bất lợi của địa phương đó. Mỗi địa phương sẽ có những chính sách và bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của mình trong thu hút vốn đầu tư và xây dựng doanh nghiệp tư nhân phát triển.
Tăng trưởng kinh tế - xã hội theo những mục tiêu đã định. Do vậy, một tỉnh có năng lực cạnh tranh cao thể hiện sự hấp dẫn về đầu tư và kinh doanh đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư hay đã tạo lập được môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Khái niệm về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (viết tắt của Provincial Competitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách phù hợp để phát triển kinh tế tư nhân. Ý tưởng xây dựng chỉ số PCI bắt nguồn từ một nghiên cứu của Quỹ Châu Á và VCCI có tên gọi “Những thực hiện tốt trong điều hành kinh tế cấp tỉnh ở Việt Nam”, được thực hiện vào năm 2003 - 2004 tại 14 tỉnh của Việt Nam, với nhiều phương pháp tính toán, nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 tương tác giữa các yếu tố điều hành kinh tế và sự phát triển kinh tế của các tỉnh đó.
Kết quả của dự án nghiên cứu này sau đó đã trở thành tiền đề của dự án nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tài trợ. Năm 2005, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Sáng kiến cạnh tranh Việt Nam thuộc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID/VNCI) chính thức hợp tác nghiên cứu chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), thực hiện điều tra, nghiên cứu trên 42 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Về tổng thể, 42 tỉnh, thành phố này chiếm khoảng 90% giá trị GDP của Việt Nam. VNCI và VCCI sau đó đã tiếp tục hợp tác xây dựng chỉ số PCI cho năm 2006 và các năm tiếp theo với sự tham gia đầy đủ của 64 tỉnh, thành phố.
Năm 2009, phương pháp luận PCI được điều chỉnh để phản ánh kịp thời sự phát triển năng động của nền kinh tế và các thay đổi trong môi trường pháp lý tại Việt Nam. Sau khi loại bỏ chỉ số “Ưu đãi doanh nghiệp nhà nước”. Năm 2013, PCI đánh dấu bước thay đổi mới khi chỉ số “Cạnh tranh bình đẳng” được đưa vào bộ chỉ số là một thước đo đánh giá, nhằm phản ánh yêu cầu của cộng đồng doanh nghiệp về một môi trường kinh doanh bình đẳng. Cứ 4 năm một lần, chỉ số PCI được tiến hành rà soát phương pháp luận và hiệu chỉnh lại.
Giống như hai lần hiệu chỉnh trước vào năm 2009 và 2013, năm 2017 chỉ số PCI tiếp tục tiến hành khảo sát và tham vấn các chuyên gia cũng như một số doanh nghiệp tiềm năng trả lời khảo sát PCI nhằm cập nhật và hoàn thiện hơn phương pháp luận PCI. Điều chỉnh phương pháp luận có thể làm gián đoạn việc đo lường đánh giá theo thời gian, song đây là đòi hỏi cấp thiết để PCI có thể cập nhật và phản ánh được những chuyển động của môi trường kinh doanh và nền kinh tế Việt Nam. Năm 2017, là năm thứ 13 VCCI cùng USAID tiến hành điều tra PCI, sự ủng hộ của cộng đồng doanh nghiệp với PCI vẫn giữ vững và ngày càng tăng. Số lượng doanh nghiệp dân doanh tham gia phản hồi điều tra năm 2017 tiếp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 tục ở con số trên 10.245 doanh nghiệp dân doanh, trong đó có 2.003 doanh nghiệp mới thành lập trong hai năm 2016 và 2017, đã trả lời điều tra, chia sẻ những trải nghiệm về thủ tục hành chính và cảm nhận về tính hiệu quả và chất lượng điều hành của các cơ quan chính quyền địa phương trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình.
Chỉ số PCI gồm 10 chỉ số thành phần, phản ánh các lĩnh vực điều hành kinh tế có tác động đến sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Một địa phương được coi là có chất lượng điều hành tốt khi có: 1) Chi phí gia nhập thị trường thấp; 2) Tiếp cận đất đai dễ dàng và sử dụng đất ổn định; 3) Môi trường kinh doanh minh bạch và thông tin kinh doanh công khai; 4) Chi phí không chính thức thấp; 5) Thời gian thanh tra, kiểm tra và thực hiện các quy định, thủ tục hành chính nhanh chóng; 6) Môi trường cạnh tranh bình đẳng; 7) Chính quyền tỉnh năng động, sáng tạo trong giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp; 8) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, chất lượng cao; 9) Chính sách đào tạo lao động tốt và 10) Thủ tục giải quyết tranh chấp công bằng, hiệu quả và duy trì được an ninh trật tự (VCCI và USAID, 2017). Đặc điểm của năng lực canh tranh Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển.
nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu được nhiều lãi. Khi còn sản xuất hàng hoá, còn phân công lao động thì còn có cạnh tranh. Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trường, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá để đạt được lợi nhuận cao nhất. Câu nói cửa miệng của nhiều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 người hiện nay "thương trường như chiến trường", phản ánh phần nào tính chất gay gắt khốc liệt đó của thị trường cạnh tranh tự do.
Xét trên phương diện một tỉnh hoặc thành phố thì khái niệm năng lực cạnh tranh của tỉnh (thành phố) còn gắn liền với khái niệm môi trường đầu tư, bởi như chúng ta đã đề cập ở trên, khi xem một tỉnh (thành phố) là một nhà cung cấp hàng hoá thì môi trường đầu tư chính là sản phẩm hàng hoá mà một nhà cung cấp cung cấp cho khách hàng của mình là các nhà đầu tư hay các doanh nghiệp. Như vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của các tỉnh (thành phố) chính là cải thiện nâng cao môi trường kinh doanh của tỉnh (thành phố) mình, điều này tương đương với việc nâng cao chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp, làm cho sản phẩm của mình trở nên khác biệt hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh, tức môi trường đầu tư ở tỉnh đó phái thông thoáng; các quy định về đầu tư, ưu đãi đầu tư phải rõ ràng, cụ thể, đơn giản, dể hiểu, dế thực hiện; cơ hạ tầng hiện đại, đáp ứng được các nhu cầu cho hoạt động đầu tư, sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp; … điều này nếu hiểu theo ngôn ngữ marketing đó chính là chiến lược cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm. Cùng với chất lượng sản phẩm thì giá thành sản phẩm chính là yếu tố quan trọng thứ hai mà khách hàng cân nhắc khi lựa chọn một sản phẩm.